Trang nhất » Tin Tức » Tài nguyên đất

Quan hệ đất đai ở nước ta qua các thời kỳ

Thứ tư - 21/01/2009 01:43
Các quan hệ về đất đai bất cứ ở đâu và lúc nào cũng mang tính lịch sử - xã hội một cách sâu sắc. Suốt thời gian lịch sử lâu dài xây dựng đất nước, từ đời Vua Hùng lấy tên nước là Văn Lang đặt kinh đô ở miền núi Phong Châu (Phú Thọ), đến thời An Dương Vương đổi tên nước là Âu Lạc, dời đô về miền đồng bằng Cổ Loa (Hà Nội) người Việt cổ vẫn không dời bỏ việc khai thác sản phẩm tự nhiên bằng săn bắt, hái lượm, tuy vậy đã dần dần tập trung sức nhiều hơn vào việc làm ruộng, làm vườn, chăn nuôi và làm ra các sản phẩm thủ công mỹ nghệ đơn sơ.
Con người lúc đó đã có ý thức tư hữu về nơi ở, về vật dụng sinh hoạt, về công cụ lao động, đồ trang sức, về nông phẩm thu hoạch. Dân số thì ít ỏi và ruộng đất chưa phải là quý hiếm đối với mọi người, ý thức về chiếm hữu ruộng đất riêng tư chưa xuất hiện rõ trong cộng đồng các bộ lạc.

Trải qua ngàn năm bắc thuộc, trong thời kỳ có Nhà nước phong kiến, chế độ sở hữu ruộng đất ở nước ta dần dần hình thành và được coi như bắt đầu thực hiện dần có quy củ theo pháp luật, cùng với thiết chế làng xã có hệ thống hoàn chỉnh. Theo lịch sử, chính Vua Lê Đại Hành là vị Vua đầu tiên tổ chức lễ (tịch điền). Nhà Tiền Lê đã chú ý làm những công trình như vét sông, đào kênh mương, làm thuỷ lợi, giao thông, khai phá đất hoang, mở mang nông nghiệp.

Như vậy có thể nói chế độ sở hữu ruộng đất từ thời Phong kiến cho đến Cách mạng tháng 8/1945 theo ba hình thức: Chế độ ruộng đất Nhà nước, chế độ ruộng đất công làng xã và chế độ ruộng đất tư. Từ thời Lý - Trần, với quan niệm “đất Vua, chùa làng”, đương nhiên tồn tại phép nước tối cao của các triều đại về đất đai, sông, biển, tài nguyên thuộc lãnh thổ Quốc gia là quyền sở hữu thống trị của nhà Vua, đại diện cho Nhà nước phong kiến. Trong khi khẳng định quyền sở hữu tối cao với toàn bộ đất đai cả nước, các triều đại vẫn cho phép nhân dân sử dụng đất đai, rừng núi, khai khẩn đất hoang để làm ruộng công điền làng xã hay tư điền của dân. Dưới mọi triều đại Phong kiến đều có 3 hình thức sở hữu ruộng đất, tuỳ theo luật pháp quy định hoặc theo quy ước của cộng đồng mà điều chỉnh trong những phạm vi nhất định. Không hoàn toàn giống nhau qua các thời kỳ lịch sử.

Chế độ ruộng đất Nhà nước: Bao gồm phần ruộng đất do Nhà nước Trung ương sở hữu và trực tiếp quản lý gồm các loại như ruộng sơn lăng, ruộng tịch điền, ruộng quốc khố, ruộng quan điền, quan trại, ruộng đồn điền. Ruộng tịch điền thường được chọn nơi ruộng công đất tốt giao cho dân địa phương cày cấy theo nghĩa vụ lao dịch, ruộng tịch điền lấy từ ruộng công, cả một phần ruộng tư và được Nhà nước đền tiền và miễn thuế, khi thu hoạch dùng vào việc thờ cúng nơi tôn miếu Nhà Vua. Ruộng quốc khố, quan điền, quan trại đó là những phần ruộng đất do Nhà nước quản lý và sở hữu, có định mức thuế, lấy quy hoạch trữ vào công khố Nhà nước, sử dụng vào việc công. Ruộng đồn điền thuộc sở hữu Nhà nước nhưng quan hệ sử dụng khác nhau, triều đình tuyển mộ lính và dân một cách cưỡng bức, mức độ bóc lột nặng nề nên dân các đồn điền thường bỏ chốn. Chế độ đồn điền tồn tại lâu dài ở nhiều hình thức công, tư khác nhau cho tới khi nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tiến hành cải cách ruộng đất.

Chế độ ruộng  đất công làng xã: Chế độ ruộng đất này ở nước ta xuất hiện đã từ rất lâu, là cơ sở vật chất của các quan hệ có tính cộng đồng các làng xã. Tuy cũng thuộc sở hữu Nhà nước, nhưng do làng xã quản lý, Nhà nước giao phần lớn đất công cho làng xã quản lý, phân bổ nộp thuế. Nhà nước cấm cầm bán ruộng đất công. Cách quản lý và phân chia đất công rất đa dạng, làng nào quản lý đất công của làng ấy. Nhà nước chưa bao giờ đem ruộng đất công của làng này cấp cho làng khác. Chia ruộng đất công là một việc làm rất phức tạp. Số người được chia ruộng gồm nhiều loại khác nhau theo 3 hạng: nhất đẳng, nhị đẳng, tam đẳng mà liệu đem chia cấp, phải có chỗ tốt, chỗ xấu cùng san xẻ, không được lấy ngôi trên để chiếm hết ruộng đất. Trước khi đem chia, hầu như làng nào cũng giành riêng một phần ruộng đất công để dùng chi tiêu vào việc công cộng.

Chế độ ruộng đất tư: Ruộng đất tư ở nước ta chủ yếu tập trung trong tay tầng lớp địa chủ vì thế địa chủ phát triển với xu thế mạnh, gây lên sự bần cùng hoá của hàng loạt nông dân nghèo. Ruộng đất tư gồm nhiều loại. Trước hết loại “bản thân điền thổ” là ruộng tư của thôn xã từ nhiều hình thức chuyển nhượng mà hình thành, có toàn quyền mua bán, sử dụng. Một loại ruộng tương tự như ruộng hậu, ruộng hương hoả, ruộng giỗ…là ruộng của tư nhân giao cho một hộ hay một hội sử dụng. Ruộng chùa hay ruộng “tam bảo” thuộc quyền sở hữu của nhà chùa. Bộ phận chính của ruộng đất tư nói chung là ruộng tư điền trong tay các cá nhân chịu thuế theo lệ ruộng đất tư. Người có công khai hoang có thể được từ một nửa đến toàn bộ diện tích khai phá nhận làm ruộng đất tư hữu.

Trong chế độ ruộng đất tư có chính sách tô và thuế. Tô là phần sản phẩm thặng dư nộp toàn bộ cho người sở hữu ruộng đất. Thuế là nghĩa vụ đóng góp của người nông dân cho Nhà nước. Trên phạm vi cả nước, đến cuối thế kỷ 19 có 2 hình thức chiếm đoạt địa tô là phát canh thu tô và cày mướn hay cho thuê.

Quan hệ sản xuất nói chung và quan hệ ruộng đất nói riêng đã bộc lộ những nhân tố bất hợp lý không phù hợp trình độ và tính chất của sức sản xuất của nông dân, nông nghiệp.

Từ khởi đầu hợp tác hoá nông nghiệp năm 1958 ở miền Bắc và năm 1976 ở miền Nam đến cuối năm 1980, nét đặc trưng bao trùm về quan hệ ruộng đất là tập thể hoá với quy mô ngày càng rộng lớn. Theo mô hình hợp tác xã tập thể hoá triệt để ruộng đất, vai trò kinh tế của hộ nông dân không được phát huy, lao động tách ra khỏi ruộng đất và sản phẩm cuối cùng. Kinh tế tập thể sa sút, kinh tế quốc doanh nông lâm nghiệp cũng trì trệ, trong khi phần đất phần trăm nhỏ bé giao cho hộ gia đình làm kinh tế phụ lại tạo ra thu nhập khá cao.

Thời kỳ từ những năm 1980 đến nay có nhiều thay đổi sâu sắc về quan hệ đất đai trong cả nước. Những nội dung với mốc thời gian đáng ghi nhớ là: Hiến pháp năm 1980; Chỉ thị 100 của Ban bí thư Trung ương Đảng tháng 1/1981; Chỉ thị 19 của Ban bí thư Trung ương Đảng ngày 3/5/1983 và Thông báo số 44 của Ban Bí thư ngày 13/7/1984; Luật Đất đai năm 1988, Hiến pháp năm 1992; Luật Đất đai năm 1993, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Đất đai tháng 12/1998; Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật Đất đai tháng 9/2001; Luật Đất đai năm 2003.

Về bộ máy quản lý đất đai:

Suốt thời kỳ Pháp thuộc mỗi làng chỉ có một trưởng bản mà việc quản lý ruộng đất đã khá chặt chẽ, việc lưu trữ hồ sơ có nề nếp. Năm 1954 khi rút khỏi miền Bắc, thực dân Pháp di chuyển theo toàn bộ hồ sơ địa chính của miền Bắc vào Sài Gòn. Sau hiệp định GiơNeVơ năm 1954, ở miền Nam tồn tại 3 chế độ điền thổ: Chế độ sắc lệnh 21/7/1925, chế độ quản thủ địa bộ và quản thủ địa chính. Đến ngày 30/5/1962, chính quyền Sài Gòn ra Sắc lệnh số 124 ban hành 1 chế độ duy nhất là quản lý điền địa. Đã tiến hành thành lập Nha địa chính, rồi Nha tổng giám đốc địa chính, địa hình và Tổng nha điền địa (1962 - 1975). Tổng nha có hệ thống ngành dọc điều hành chặt chẽ. Cấp tỉnh nắm đến các hộ điền địa, có bản đồ, tài liệu và hệ thống lưu trữ.

ở miền Bắc sau cách mạng tháng 8/1945 các Ty, Sở Địa chính được xát nhập vào Bộ Canh nông. Ngày 18/6/1949, thành lập nha Địa chính trong Bộ Tài chính và tập chung làm thuế nông nghiệp phục vụ kháng chiến. Ngày 3/5/1958, có Chỉ thị số 334/ TTg cho tái lập hệ thống địa chính trong Bộ Tài chính và UBND các cấp để làm nhiệm vụ đo đạc lập bản đồ giải thửa và sổ sách địa chính. Ngày 9/12/1960, Nghị định số 70/CP chuyển ngành địa chính từ Bộ Tài chính sang Bộ Nông nghiệp và đổi tên là Vụ Quản lý Ruộng đất. Từ năm 1966 cho đến tháng 4/1979, qua 3 lần thay đổi tổ chức ngành Quản lý Ruộng đất. Ngày 9/11/1979, Chính phủ có Nghị định số 404/CP thành lập Tổng cục Quản lý Ruộng đất trực thuộc HĐBT, sau đó sáp nhập với Cục đo đạc và Bản dồ Nhà nước, đổi tên là Tổng cục Địa chính. Ngày 11/11/2002 Chính phủ có Nghị định số 91/2002/NĐ-CP thành lập Bộ Tài nguyên & Môi trường trực thuộc Chính phủ trong đó có chức năng quản lý nhà nước về các lĩnh vực đất đai; môi trường, khoáng sản, nước, khí tượng thuỷ văn và đo đạc bản đồ.

Tóm lại, qua một quá trình lâu dài, quan hệ đất đai của nước ta đã vận động theo từng thời kỳ lịch sử, ngày một hoàn thiện hơn trên cơ sở pháp định, được pháp luật bảo đảm trong các mối quan hệ cụ thể giữa Nhà nước với nhân dân, giữa các tổ chức cá nhân với nhau và với Nhà nước, một số quan hệ với tổ chức và cá nhân nước ngoài. Với bản chất là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, bất cứ một chế định nào của Nhà nước ta về đất đai đều được nhân dân tham gia đóng góp ý kiến một cách rộng rãi, được đặc biệt quan tâm và chỉ đạo thận trọng, cụ thể và kịp thời. Tuy nhiên, đất nước đang có những biến chuyển mới, mà đặc điểm nổi bật nhất và cũng là một khó khăn lớn nhất của nông nghiệp và nông thôn nước ta là đất chật người đông, do đó các quan hệ đất đai luôn luôn là vấn đề thời sự vừa phải được giải quyết kịp thời, vừa phải giữ được thế ổn định lâu dài. Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân và thống nhất quản lý về đất đai.

Tác giả bài viết: Quốc Hùng - Thanh tra Sở

Tổng số điểm của bài viết là: 12 trong 3 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
Bản đồ giá đất
Quyết định khu vực cấm, phương án khai thác khoáng sản
Công bố các văn bản của Sở Tài nguyên và Môi trường
Công bố quy hoạch sử dụng đất tỉnh phú thọ đến năm 2020
Hướng dẫn công tác bảo vệ môi trường nông thôn trên địa bàn tỉnh phú thọ
Bản đồ hành chính

Tra tin theo ngày tháng

T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
      1 2 3 4
5 6 7 8 9 10 11
12 13 14 15 16 17 18
19 20 21 22 23 24 25
26 27 28 29 30 31  
2021 << 12/2022 >> 2023
Bộ Tài nguyên và Môi trường
Cổng TTDT Chính phủ
Cổng thông tin điện tử tỉnh Phú Thọ
Dịch vụ công trực tuyến Bộ TN và MT
Dịch vụ công trực tuyến
Du lịch Phú Thọ
Tài liệu tuyên truyền pháp luật
Cục Công nghệ thông tin
Cục đo đạc và bản đồ
Cục bảo vệ môi trường
Chung tay phòng, chống Đại dịch COVID
Thông tin chỉ đạo điều hành
Dự báo thời tiết

Thống kê truy cập

vay cong so Đang truy cập : 66

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 65


thời trang công sở Hôm nay : 22709

thoi trang han quoc Tháng hiện tại : 85393

4 Tổng lượt truy cập : 28346676

Bảng giá đất


san panel thi công nhà xưởng nồi hơi tầng sôi thi công trần nhà Chung cư Sunrise City Lê Văn Lương chung cư thương mại Dự án chung cư Đồng Phát Park View Vinhomes Riverside Hải Phòng Vinhomes metropolis Liễu Giai Dự án Vinhomes dong phuc Giá máy làm đá viên Máy bào đá tự động may lam da nắp hố ga đầu cáp ngầm 24kv