Trang nhất » Tin Tức » Tài nguyên đất

Định hướng quy hoạch sử dụng đất vùng đồng bằng sông Cửu Long gắn với phát triển kinh tế - xã hội bền vững

Thứ năm - 05/10/2017 09:39
Vị trí và các đơn vị hành chính vùng đồng bằng sông Cửu Long

Vị trí và các đơn vị hành chính vùng đồng bằng sông Cửu Long

“Khi chúng ta xây dựng chủ trương chuyển đổi mô hình kinh tế phát triển bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long không thể không tính toán đến việc quản lý và quy hoạch sử dụng đất của Vùng. Đây là vấn đề quan trọng đầu tiên của các vấn đề để tính toán, để quy hoạch cho phát triển kinh tế - xã hội của vùng đồng bằng sông Cửu Long.” - Đại diện Tổng cục Quản lý đất đai, Bộ Tài nguyên và Môi trường phát biểu tham luận tại Hội nghị về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu tổ chức tại thành phố Cần Thơ ngày 26-27/9.

Cơ hội và thách thức công tác quản lý, sử dụng đất của vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Là vùng có địa hình bằng phẳng, đất đai phì nhiêu, nguồn nước dồi dào, điều kiện khí hậu thời tiết có nhiều thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lúa gạo, thủy sản và trái cây, đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức.
Về cơ hội, nằm giữa khu vực kinh tế năng động và phát triển, liền kề với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và Thành phố Hồ Chí Minh, bên cạnh các nước Đông Nam Á (Thái Lan, Singapore, Malaysia, Philippines, Indonesia,.) một khu vực có nền kinh tế phát triển là những thị trường và đối tác đầu tư quan trọng thuận lợi trong việc phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của cả vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đồng thời, điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển nông nghiệp và có thể tạo ra một hệ thống nông nghiệp đa dạng có năng suất cao và ổn định, đặc biệt là sản xuất lương thực, nuôi trồng và đánh bắt thủy sản, phát triển cây ăn tráí. Dân số độ tuổi lao động (tính từ 15 tuổi đến 60 tuổi) khoảng 10,5 triệu người, bằng 59,8% dân số của vùng, đây là nguồn nhân lực lớn thuận lợi trong việc phát triển kinh tế toàn diện, đa ngành, đa lĩnh vực.
Tuy nhiên, vùng cũng đối diện với những thách thức như vị trí tiếp giáp với biển Đông (700 km đường bờ biển) cùng với nền địa hình thấp, có nhiều khu vực bị ngập lũ hàng năm; nền đất yếu, bị chia cắt bởi sông ngòi, kênh, rạch nhiều nên khó khăn cho đời sống, sản xuất của nhân dân và đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng, phát triển đô thị, khu dân cư nông thôn. Đất đai thường xuyên bị xâm nhập mặn vào mùa khô, dẫn đến tính chất lý, hóa của đất bị biến đổi nhanh gây nhiều khó khăn trong việc chủ động lựa chọn giống cây trồng, chuyển đổi cơ cấu sản xuất của người dân. Nằm ở vùng hạ lưu sông Mê Kông nên chịu ảnh hưởng rất nhiều do việc khai thác, sử dụng nguồn nước ở thượng nguồn của các nước…
 
Định hướng quy hoạch sử dụng đất bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long gắn với phát triển kinh tế - xã hội
Định hướng quy hoạch sử dụng đất
Định hướng quy hoạch sử dụng đất đảm bảo hài hòa với điều kiện tự nhiên, thân thiện với môi trường đối với từng tiểu vùng; đồng thời phải chủ động kiểm soát, quản lý được tác động của tự nhiên, con người.
Đảm bảo khai thác một cách có hiệu quả trên một đơn vị diện tích, đồng thời có chính sách linh hoạt để duy trì và bảo vệ tốt diện tích đất trồng lúa cần thiết để bảo đảm an ninh lương thực quốc gia; đẩy nhanh tiến độ trồng rừng, đặc biệt là rừng phòng hộ ven biển, bảo đảm khai thác hiệu quả để duy trì và nâng cao khả năng phòng chống thiên tai, xâm thực, suy thoái đất.
Dành quỹ đất hợp lý để tu bổ và xây mới các công trình thủy lợi, hệ thống đê sông, đê biển trong vùng, bảo đảm ứng phó hiệu quả với lũ lụt, hạn hán, nước biển dâng, xâm nhập mặn trong điều kiện BĐKH, NBD.
Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi thích hợp đảm bảo có hiệu quả kinh tế cao, chú trọng tới khả năng chịu ngập, chịu hạn, chịu mặn, chịu sâu bệnh cao, thích nghi với sự thay đổi của khí hậu, phù hợp với đặc điểm sinh thái của từng khu vực trong vùng; chuyển đổi cơ cấu thời vụ gieo trồng để né tránh các cao khu vực. Đối với vùng ngập lũ cần phải thực hiện chuyển đổi mạnh cơ cấu mùa vụ, cây trồng theo hướng thích ứng với điều kiện tự nhiên.
Sử dụng đất phát triển công nghiệp hiệu quả và bền vững; bảo đảm an ninh quốc phòng, an sinh xã hội và bảo vệ môi trường. Phát triển tập trung vào công nghiệp chế biến nông, lâm, hải sản hướng vào xuất khẩu.
Bố trí quỹ đất hợp lý để xây dựng, hoàn thiện kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đồng bộ để tạo bước đột phá nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của vùng.
Tập trung xây dựng các vùng đô thị trung tâm, các tiểu vùng; trong đó phát triển thành phố Cần Thơ là một thành phố trung tâm Vùng với đầy đủ các chức năng: đầu mối giao thông, trung tâm đào tạo nghiên cứu, dịch vụ tài chính, thương mại, văn hoá, du lịch và dịch vụ hạ tầng xã hội.
Phân bố hợp lý quỹ đất để xây dựng, hình thành hệ thống điểm dân cư nông thôn trong vùng đảm bảo tốt hơn các điều kiện về ở, sinh hoạt, hệ thống phúc lợi, hệ thống sản xuất, phong tục tập quán của 13 tỉnh thành phố trong vùng.
 
Định hướng tổ chức không gian sử dụng đất gắn với phát triển kinh tế - xã hội của vùng Đồng bằng sông Cửu Long kết nối với Tp. Hồ Chí Minh
Trên cơ sở tổng hợp, phân tích, đánh giá các yếu tố về điều kiện tự nhiên, xã hội, môi trường, tiềm năng đất đai và định hướng phát triển trong tương lai, vùng đồng bằng sông Cửu Long sẽ phát triển theo 3 tiểu vùng như sau:
 
Tiểu vùng 1 là tiểu vùng với cơ cấu kinh tế: Dịch vụ - Công nghiệp - Nông nghiệp (tiểu vùng trung tâm giữa sông Tiền - sông Hậu) có quy mô diện tích 948 nghìn ha, chiếm 23,38% diện tích tự nhiên toàn vùng; bao gồm: tỉnh Trà Vinh, Bến Tre, Vĩnh Long, 1 phần tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Sóc Trăng, TP Cần Thơ. Đây là tiểu vùng trung tâm chiếm vai trò chiến lược trong mối quan hệ với Quốc gia, Quốc tế. Đồng thời, là nơi tập trung đô thị dịch vụ, công nghiệp, nghiên cứu khoa học; là đầu mối giao thương với các vùng trong cả nước thông qua cảng vùng và sân bay quốc tế, là định hướng cơ bản cho vùng đồng bằng sông Cửu Long.
 
Tiểu vùng 2 là tiểu vùng với cơ cấu kinh tế: Công nghiệp - Dịch vụ - Nông nghiệp có quy mô diện tích 889 nghìn ha, chiếm 21,92% diện tích tự nhiên toàn vùng, bao gồm: tỉnh Tiền Giang, Long An và 1 phần tỉnh Đồng Tháp. Đây là tiểu vùng phát triển kinh tế công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp thuộc phía Đông Bắc của vùng, tiếp giáp với TP.Hồ Chí Minh.
 
Tiểu vùng 3 là tiểu vùng với cơ cấu kinh tế: Nông nghiệp - Công nghiệp - Dịch vụ có quy mô diện tích 2.218 nghìn ha, chiếm 54,70% diện tích toàn vùng; bao gồm: tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Hậu Giang, Kiên Giang, 1 phần tỉnh An Giang, TP Cần Thơ, Sóc Trăng. Đây là tiểu vùng phát triển mạnh về nông nghiệp gắn với ngành công nghiệp chế biến thủy hải sản, du lịch biển đảo,... đây cũng là một cực đối trọng với các đô thị và cảng trong vịnh Thái Lan kết nối với các nước Đông Nam Á (Cămpuchia, Thái Lan, Malaixia, Singapore,.).
 
Giải pháp quản lý, sử dụng đất bền vững đồng bằng sông Cửu Long
Để nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất vùng đồng bằng sông Cửu Long cần xây dựng tổng thể hệ thống các giải pháp về thu hút đầu tư, vốn và công nghệ; xây dựng các cơ chế, chính sách đặc thù phù hợp với chiến lược phát triển và định hướng sử dụng đất từng tiểu vùng của đồng bằng sông Cửu Long.
 
Giải pháp quản lý, sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
Bố trí quỹ đất để xây dựng và nâng cấp hệ thống đê biển, đê bao khép kín và hệ thống cống ngăn mặn ven theo bờ biển, hệ thống cống đập ngăn mặn, rửa mặn tự động nội đồng thuộc các khu vực bị ảnh hưởng bởi nước mặn không những chống xâm nhập mặn mà còn phòng tránh lũ lụt và bảo vệ các vùng sản xuất nông nghiệp.
Đẩy mạnh và mở rộng mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao theo hướng tập trung quy mô lớn, nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai trên một đơn vị diện tích.
Quy hoạch vùng sản xuất thành các vùng chuyên canh, phù hợp với tình hình BĐKH, NBD đảm bảo nước tưới, hạn chế xâm nhập mặn, nâng cao năng suất cây trồng (vùng ngọt, vùng lợ và vùng mặn).
Sử dụng đất nông nghiệp theo hướng: vùng bị ngập mặn mới ưu tiên nuôi tôm sú hoặc nuôi thuỷ sản nước lợ; vùng có nguy cơ ngập lụt mùa mưa bố trí mùa vụ né tránh lũ, lụt và tiểu mạn; tăng cường trồng cây xanh, thảm phủ cho những nơi xói mòn, xói lở, trượt đất.
Đối với đất trồng lúa, cần hình thành các vùng sản xuất lúa tập trung như vùng sản xuất chất lượng cao phục vụ xuất khẩu, vùng sản xuất lúa thu đông, vùng sản xuất tôm - lúa.v.v. nhằm tạo thuận lợi cho công tác quản lý, đầu tư và nâng cao hiệu quả sản xuất.
Hình thành và phát triển vùng trồng cây ăn quả tập trung cho toàn vùng và từng tỉnh; trong đó xác định mỗi tỉnh chỉ nên tập trung vào sản xuất 2 - 3 loại cây được xem là có lợi thế, tránh tình trạng sản xuất tự phát, chạy theo giá cả thị trường.
Bố trí diện tích đất để trồng và bảo vệ rừng ngặp mặn, khôi phục hệ sinh thái (đặc biệt ở vùng cửa sông, ven biển) có vai trò quan trọng trong việc hình thành thức ăn cho các loài thủy sản. Giải pháp này cần kết hợp với ngành thuỷ sản để tăng cường sự phối hợp liên ngành.
Xác định vị trí nuôi phù hợp để tránh được hiện tượng hạn hán kéo dài, mưa lũ, nước biển dâng, nồng độ muối trong ao nuôi tăng hoặc giảm quá mức. Phân vùng nuôi phù hợp tại 3 vùng sinh thái ngọt, lợ, mặn đối với từng giống thủy sản có tính đến yếu tố gia tăng diện tích ngập mặn.
Quy hoạch vùng nuôi trồng tập trung, đảm bảo cơ sở hạ tầng cho nuôi trồng thủy sản, không cho phép người dân tự phát chuyển đổi diện tích sản xuất nông nghiệp sang nuôi trồng thuỷ sản, đặc biệt ở những khu vực trồng lúa ổn định; xây dựng các khu bảo tồn, tạo giống mới, tái tạo nguồn lợi, hệ thống phòng trừ dịch bệnh. Đây là giải pháp hữu hiệu trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng.
 
Giải pháp quản lý, sử dụng đất phát triển đô thị và khu dân cư nông thôn
Hình thành các khu dân cư tập trung thích ứng với tình hình biến đổi khí hậu, nước biển dâng đang diễn ra. Tại các huyện ven biển có nhiều hộ dân cư sinh sống ở khu vực ngoài đê thường chịu tác động của thiên tai (khu vực ven biển). Cần quy hoạch bố trí các khu dân cư nằm trong khu vực an toàn. Đồng thời có chính sách hỗ trợ, tái định cư, tạo công ăn việc làm và xây dựng nhà kiên cố cho nhân dân khu vực thường xuyên chịu tác động của thiên tai và biến đổi khí hậu.
 Xác định quy mô đô thị hợp lý đồng thời lập và thực hiện quy hoạch đồng bộ nhằm mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất và phù hợp với trình độ quản lý của bộ máy quản lý đô thị hiện hành.
Dành quỹ đất phát triển các khu dân cư tập trung, quy hoạch chuyển vị trí dân cư sang nơi có điều kiện hạ tầng và đảm bảo an toàn trong mùa lũ và do nước biển dâng cao, khoanh vùng bảo vệ kết hợp bố trí theo tuyến và tôn nền để đảm bảo cuộc sống ổn định và an toàn cho các khu dân cư các tỉnh có lũ đầu nguồn.
 
Giải pháp quản lý, sử dụng đất phát triển công nghiệp, thương mại
Đối với lĩnh vực công nghiệp, không xây dựng các khu công nghiệp đã quy hoạch trên các vùng đất thấp khi không có biện pháp bảo vệ khỏi sự tác động của ngập nước. Các khu công nghiệp và cụm công nghiệp được quy hoạch xây dựng ven biển hay xảy ra sạt lở cần xem xét lại vị trí xây dựng. Nếu xây dựng phải đưa ra giải pháp thích nghi và có chính sách ưu đãi cho các doanh nghiệp khi đầu tư xây dựng. Tập trung đầu tư các công trình hạ tầng kỹ thuật, chú trọng phát triển công nghiệp gắn với tăng trưởng bền vững.
Đối với lĩnh vực thương mại, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển khu kinh tế gắn với giải quyết các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường, để đảm bảo tính bền vững. Tập trung ưu tiên thu hút các ngành nghề, lĩnh vực có hàm lượng công nghệ cao, ít ảnh hưởng đến môi trường, giải quyết nhu cầu việc làm cho lao động địa phương. Việc xem xét bổ sung thêm các khu kinh tế ven biển vào Quy hoạch cần được cân nhắc về thời điểm cũng như các điều kiện đáp ứng thực tế của địa phương. Tập trung phát triển các khu kinh tế ven biển đã thành lập, kiên quyết không thành lập thêm các khu kinh tế ven biển khi chưa đủ điều kiện.
 
Kết luận, quy hoạch sử dụng đất là giải pháp tối ưu nhằm hạn chế những bất lợi của biến đổi khí hậu và các hoạt động khác, trên cơ sở đó để phân bổ một các hợp lý quỹ đất cho phát triển kinh tế - xã hội ở từng địa phương, của Vùng, nâng cao khả năng phòng chống thiên tai, chống sa mạc hóa, xâm thực, suy thoái đất; tăng cường bảo vệ, quản lý và phát triển rừng ngập mặn, các hệ sinh thái đất ngập nước, chủ động ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu, các hoạt động ở thượng nguồn sông MeKong, nước biển dâng và xâm nhập mặn.

Nguồn tin: www.monre.gov.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
Thông tin đấu giá
Công bố các văn bản của Sở Tài nguyên và Môi trường
Công bố quy hoạch sử dụng đất tỉnh phú thọ đến năm 2020
Danh sách phôi giấy chứng nhận sử dụng đất hư hỏng và đã bị tiêu hủy
Hướng dẫn công tác bảo vệ môi trường nông thôn trên địa bàn tỉnh phú thọ
Bản đồ hành chính

Tra tin theo ngày tháng

T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30 31        
2017 << 1/2018 >> 2019
Dịch vụ công trực tuyến Bộ TN và MT
Vay vốn ưu đãi
Biển đảo Việt Nam
Chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn năm 2017
Việt Nam - Asean
Apec 2017
Chủ quyền Biển, Đảo
Cổng TTDT Chính phủ
Dịch vụ công trực tuyến
Trung tâm Công nghệ Thông tin
Du lịch Phú Thọ
Tài liệu tuyên truyền pháp luật
Cổng thông tin điện tử tỉnh Phú Thọ
Bộ Tài nguyên và Môi trường
Cục Công nghệ thông tin
Cục đo đạc và bản đồ
Cục bảo vệ môi trường
 
Dự báo thời tiết

Thống kê truy cập

vay cong so Đang truy cập : 48


2 Hôm nay : 3106

thoi trang han quoc Tháng hiện tại : 95083

áo khoác nữ Tổng lượt truy cập : 9021899

Bảng giá đất

san panel thi công nhà xưởng nồi hơi tầng sôi thi công trần nhà Chung cư Sunrise City Lê Văn Lương chung cư thương mại Dự án chung cư Đồng Phát Park View Vinhomes Riverside Hải Phòng Vinhomes metropolis Liễu Giai Dự án Vinhomes dong phuc Giá máy làm đá viên Máy bào đá tự động may lam da nắp hố ga đầu cáp ngầm 24kv