Trang nhất » Tin Tức » Môi trường

Tình hình môi trường và công tác quản lý bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

Thứ tư - 21/10/2009 06:09
Kiểm tra thực địa tại Công ty TNHH MiWon Việt Nam

Kiểm tra thực địa tại Công ty TNHH MiWon Việt Nam

(Bài tham luận tại Hội thảo Khoa học “Nâng cao vai trò cộng đồng trong bảo vệ môi trường và phát triển bền vững” ngày 19/9/2009 của Sở Tài nguyên và Môi trường)
I. Tổng quan về môi trường tỉnh Phú Thọ

Phú Thọ là tỉnh miền núi với điều kiện tự nhiên khá đa dạng của ba vùng sinh thái: đồng bằng, trung du, vùng núi, nằm ở cuối dãy Hoàng Liên Sơn, là cửa ngõ nối liền đồng bằng với các tỉnh phía Bắc Tây Bắc; tiếp giáp các tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, Yên Bái, Sơn La, Hoà Bình và TP.Hà Nội; với địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Tổng diện tích đất tự nhiên là: 352.384,14 ha chia thành 13 đơn vị hành chính: 11 huyện, 1 thành phố, 1 thị xã, 277 xã, phường, thị trấn. Dân số 1.326.813 người, 21 dân tộc, mật độ 373 người/km2. Khu vực nông thôn là: 1.118.434 người, chiếm tới 85%.

Trong những năm qua tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh khá nhanh đạt bình quân 10%/năm với cơ cấu kinh tế: Nông nghiệp 27,6% - Công nghiệp 38,1% - Dịch vụ 34,36% đã góp phần cải thiện, nâng cao đời sống nhân dân trong tỉnh, nhưng cũng đã có những tác động ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái của tỉnh, đặc biệt là chất thải do sản xuất công nghiệp, chất thải đô thị. Là tỉnh có nền công nghiệp phát triển khá sớm, trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội từ thế kỷ trước đã hình thành ba khu công nghiệp chính là: Việt Trì; Bãi Bằng - Lâm Thao; Thanh Ba - Hạ Hoà. Phần lớn các cơ sở công nghiệp của tỉnh đều sử dụng hệ thống công nghệ cũ từ những thập niên 60 của thế kỷ trước, qua thời gian sử dụng thiết bị máy móc cũ rão, sản xuất tiêu tốn nhiều năng lượng, nhiên liệu thải ra nhiều chất thải như nước thải, khí thải, chất thải rắn .... với sự thiếu đồng bộ hoặc không có công nghệ xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn cho phép trước khi thải vào môi trường đã gây tác hại xấu đến chất lượng môi trường khu vực xung quanh. Ngoài ra còn có các cơ sở tiểu thủ công nghiệp phát triển theo nhu cầu thị trường bám theo các khu công nghiệp, đô thị, nằm xen kẽ trong các khu dân cư. Chất thải trong quá trình sản xuất của các cơ sở này khó kiểm soát và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng môi trường sống khu vực xung quanh. Bên cạnh đó quá trình đô thị hoá tương đối nhanh, dân số tăng đã có những ảnh hưởng đáng kể đến môi trường và tài nguyên thiên nhiên, đến sự cân bằng sinh thái; Nhiều xí nghiệp, nhà máy gây ô nhiễm môi trường lớn trước đây nằm ở ngoại thành, nay đã lọt vào giữa các khu dân cư đông đúc; Sản xuất công nghiệp phát triển mạnh làm phát sinh một lượng lớn chất thải, trong đó chất thải nguy hại ngày càng tăng; ngoài ra đô thị hoá làm tăng dòng người dân từ nông thôn ra thành thị, gây nên áp lực đáng kể về nhà ở và vệ sinh môi trường cùng với sự bùng nổ giao thông cơ giới gây ô nhiễm môi trường không khí và tiếng ồn cần được quan tâm lưu ý ngăn ngừa, cụ thể:

- Về nước thải:

+ Nước thải công nghiệp: Nhiều cơ sở công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải sản xuất, song chưa đạt tiêu chuẩn cho phép trước khi thải ra ngoài môi trường gây ô nhiễm môi trường nước khu vực xung quanh.
+ Nước thải đô thị: Tất cả các đô thị trên địa bàn tỉnh chưa có hệ thống thu gom xử lý nước thải tập trung.

- Về môi trường không khí:

Môi trường không khí ở Phú Thọ bị ô nhiễm chủ yếu ở 3 khu công nghiệp chính: Việt Trì, Bãi Bằng - Lâm Thao và Thanh Ba. Các chỉ tiêu ô nhiễm chủ yếu là bụi, các hơi khí độc phát sinh do đốt nhiên liệu và từ các ngành sản xuất như: Clo, H2S, CO, SO2, NOx...Nhiều nhà máy xí nghiệp mới chỉ xử lý bụi, chưa có hệ thống xử lý khí thải hoàn chỉnh đạt tiêu chuẩn cho phép dẫn đến môi trường không khí xung quanh các khu cụm công nghiệp bị ô nhiễm như khu vực Bãi Bằng, Lâm Thao, Thanh Ba, Nam Việt Trì....

- Về chất thải rắn:

Tổng lượng chất thải rắn đô thị: 232.773,13 tấn/năm.
Tổng lượng chất thải rắn nông thôn: 3.559 tấn/năm.
Tổng lượng chất thải rắn công nghiệp: 130.304 tấn/năm.
Tổng lượng chất thải rắn nguy hại: 48.000 tấn/năm (trong đó có cả rác thải Y tế nguy hại).

+ Chất thải rắn công nghiệp: Chất thải rắn công nghiệp trên địa bàn tỉnh vẫn chưa được thu gom, xử lý triệt để đặc biệt là chất thải nguy hại chưa có phương án xử lý thích hợp, vì vậy trong thời gian tới nếu công nghiệp phát triển mạnh hơn, điều này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường nếu không có giải pháp kịp thời.
+ Chất thải rắn sinh hoạt: Trên địa bàn tỉnh mới chỉ có thành phố Việt Trì và thị xã Phú Thọ là có Công ty Môi trường đô thị thu gom xử lý tập trung; Đối với các huyện, do tổ Hợp tác thu gom đưa vào một chỗ tập trung, nhưng còn có nơi chất thải rắn sinh hoạt của dân cư chưa được tổ chức thu gom xử lý tập trung.
+ Chất thải y tế: Hầu hết các cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh chưa có hệ thống thu gom, xử lý nước thải, chất thải rắn đảm bảo tiêu chuẩn cho phép.

II. Tình hình thực hiện Luật Bảo vệ Môi trường và công tác quản lý BVMT:

1. Công tác giáo dục tuyên truyền phổ biến và cụ thể hoá pháp luật về Bảo vệ môi trường:

Tổ chức giáo dục phổ biến nâng cao nhận thức pháp luật về BVMT. Phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý với các cơ quan thông tin đại chúng và các tổ chức đoàn thể để thông tin tuyên truyền bằng nhiều hình thức phù hợp đến đông đảo nhân dân. Đã tổ chức tập huấn phổ biến hướng dẫn cho các tổ chức, cá nhân thực hiện quy định của Nhà nước về BVMT.

Cấp uỷ, chính quyền đã quan tâm lãnh đạo chỉ đạo, đã ban hành các Chỉ thị , Chương trình, các văn bản pháp quy cụ thể hoá việc thực hiện pháp luật và chính sách của nhà nước ở địa phương như: “Quy định một số điểm cụ thể về kiểm soát ô nhiễm môi trường đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và khu sản xuất kinh doanh dịch vụ tập trung trên địa bàn tỉnh Phú Thọ”, “Quy định bảo vệ môi trường trong xây dựng trên địa bàn tỉnh” v.v ...

2. Triển khai thực hiện những nhiệm vụ trọng điểm và các biện pháp quản lý phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm môi trường:

- Nghiên cứu cụ thể hóa các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trong các ngành sản xuất kinh doanh, dịch vụ và hoạt động xã hội để triển khai thực hiện. Rà soát, bổ sung nội dung về bảo vệ môi trường vào các văn bản do UBND tỉnh ban hành trên các lĩnh vực có liên quan nhằm tạo sự phù hợp hài hoà giữa bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế như: Tham mưu, thực hiện xây dựng trình Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh ban hành Chiến lược Bảo vệ môi trường tỉnh Phú Thọ đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020; Chỉ thị số 32-CT/TU ngày 25/5/2005 của Tỉnh uỷ về việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW; Chương trình hành động số 1751/CTr-UBND, ngày 14/9/2006 của UBND tỉnh Phú Thọ về Bảo vệ môi trường giai đoạn 2006-2010; Quyết định số 3485/2007/Qé- UBND, ngày 25/12/2007 về Quy định một số điểm cụ thể về bảo vệ môi trường và kiểm soát ô nhiễm đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung... đồng thời tham gia đóng góp nhiều các văn bản pháp quy về lĩnh vực bảo vệ môi trường của các Bộ ngành, Trung ương.

- Sở Tài nguyên và Môi trường đã triển khai hướng dẫn và yêu cầu các chủ dự án thực hiện lập báo cáo ĐTM để trình thẩm định theo quy định, tính đến tháng 8 năm 2009 đã thẩm định và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt được 163 Báo cáo ĐTM của các cơ sở, dự án đầu tư. Đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đã hoạt động mà chưa có báo cáo ĐTM được yêu cầu phải lập Đề án bảo vệ môi trường để kiểm tra xác nhận, phê duyệt theo quy định làm cơ sở bổ sung các giải pháp khắc phục và bảo vệ môi trường, đồng thời làm căn cứ cho cơ quan quản lý kiểm soát.

- Xem xét hồ sơ và cấp giấy xác nhận đủ điều kiện sử dụng, nhập khẩu phế liệu phục vụ sản xuất chặt chẽ, đúng quy định.

- Hướng dẫn, đôn đốc các đơn vị kê khai, lập hồ sơ đăng ký để cấp phép quản lý, vận chuyển, xử lý chất thải nguy hại theo quy định của Bộ Tài nguyên & Môi trường.

- Đẩy mạnh việc thực hiện các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm trong khai thác, chế biến khoáng sản, bắt buộc các cơ sở khai thác khoáng sản phải thực hiện việc hoàn nguyên môi trường sau khi kết thúc quá trình khai thác: Đã yêu cầu 59 đơn vị, doanh nghiệp hoạt động khoáng sản phải lập phương án ký, nộp quỹ phục hồi môi trường sau khi kết thúc quá trình khai thác với tổng số tiền ký quỹ phục hồi môi trường trên 4,5 tỷ đồng. Tuy vậy, tại một số khu vực vẫn xảy ra tình trạng xô lũ ảnh hưởng đến ruộng đất canh tác của dân, làm xuống cấp đường giao thông, gây bụi bẩn mà chưa có giải pháp đầu tư khắc phục thoả đáng.

- Tổ chức thu phí bảo vệ môi trường nước thải công nghiệp theo Nghị định 67/2003/NĐ-CP của Chính phủ, tính đến hết tháng 7 năm 2009 tổng số phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp thu được 4.567 triệu đồng. Hiện nay đang tổ chức triển khai thu phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn và chất thải nguy hại.

- Chỉ đạo, đôn đốc 07 đơn vị, doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng nằm trong danh sách Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg ngày 22/4/2003 của Thủ tướng Chính phủ. Các đơn vị này đã đầu tư hơn 100 tỷ đồng để đổi mới công nghệ, xây dựng cải tạo hệ thống xử lý nước thải, khí thải, chất thải rắn... Tuy nhiên so với yêu cầu phải hoàn thành vào cuối năm 2007 thì tiến độ của một số đơn vị này còn chậm. Tiếp tục kiểm tra và đưa vào danh sách để bắt buộc xử lý triệt để ô nhiễm đối với các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, nhất là với các cơ sở nằm xen kẽ trong khu đông dân cư: Bãi rác thị trấn Đoan Hùng, Bãi rác thị trấn Sông Thao, Bệnh viện Điều dưỡng và phục hồi chức năng, Bệnh viện Lao và bệnh viện phổi, Bệnh viện Phụ sản Phú Thọ, Bệnh viện Tâm thần Phú Thọ, Bệnh viện y học cổ truyền Phú Thọ, Công ty TNHH Toàn Năng Phú Thọ.

- Vận động khuyến khích xã hội hoá về bảo vệ môi trường; tổ chức phát động phong trào toàn dân tham gia hưởng ứng các Ngày Môi trường thế giới 5/6; Tuần lễ nước sạch và vệ sinh môi trường 29/4 - 6/5 hàng năm...

3. Tăng cường quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường:

- Củng cố tăng cường hệ thống bộ máy quản lý về bảo vệ môi trường từ tỉnh đến cơ sở. Năm 2009, cấp tỉnh đã thành lập Chi cục Bảo vệ môi trường thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường trên cơ sở nâng cấp phòng Quản lý Môi trường, tăng số biên chế cán bộ chuyên môn từ 6 người lên 15 người; từng bước bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ được giao.

- Tăng cường kiểm tra giám sát việc đầu tư lắp đặt các thiết bị xử lý chất thải và thực hiện các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm theo báo cáo ĐTM được phê duyệt. Tổ chức nhiều đoàn, nhiều đợt (cả thường xuyên và đột xuất) với các lực lượng quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường và lực lượng Cảnh sát Môi trường tại 338 đơn vị doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh, đã phát hiện những vi phạm về quản lý và bảo vệ môi trường, tiến hành xử phạt với tổng số tiền: 529,75 triệu đồng, yêu cầu các đơn vị tăng cường đổi mới thiết bị, đầu tư hệ thống xử lý khói, bụi, nước thải, quản lý và xử lý rác thải trong ðó đình chỉ 02 đơn vị gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, buộc phải khắc phục (Công ty TNHH MiWon Việt Nam, công ty TNHH chế biến khoáng sản Khải Hoàn sản xuất thép xốp tại khu vực xã An Đạo); kiểm tra yêu cầu khắc phục đối với 35 cơ sở gây ô nhiễm môi trường theo kiến nghị của cử tri và đơn thư phản ánh của nhân dân.

4. Triển khai thực hiện các dự án cải thiện môi trường:

Đã triển khai thực hiện các dự án về môi trường: Dự án Chiến lược bảo vệ môi trường tỉnh Phú Thọ; Dự án Điều tra đánh giá tình hình ô nhiễm tại các vùng nhạy cảm về môi trường trên địa bàn tỉnh; Dự án Xác định hệ thống mạng lưới quan trắc và thực hiện quan trắc, lấy mẫu phân tích cảnh báo ô nhiễm môi trường hàng năm trên địa bàn tỉnh...

Thực hiện kết luận buổi làm việc ngày 23/4/2007 giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường với tỉnh Phú Thọ (theo Thông báo số 66/TB-BTNMT ngày 2/5/2007 của Bộ TNMT) trong đó Bộ trưởng giao cho các Vụ, Cục có đề xuất cụ thể với Lãnh đạo Bộ quyết định hỗ trợ tỉnh xây dựng tiềm lực con người, tạo điều kiện để tỉnh tham gia một số dự án quốc tế trong lĩnh vực tài nguyên, môi trường và hỗ trợ tỉnh thực hiện: dự án điều tra đánh giá tổng thể các vùng đất ngập nước; xây dựng đề án phân loại và xử lý rác thải tại nguồn đối với thành phố Việt Trì; xây dựng hệ thống thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải và nước thải sinh hoạt Thị xã Phú Thọ; đầu tư tăng cường năng lực quan trắc và phân tích môi trường cho Trung tâm Quan trắc và Bảo vệ môi trường tỉnh Phú Thọ. Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Phú Thọ đã phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng dự án điều tra đánh giá tổng thể các vùng đất ngập nước; đề án phân loại và xử lý rác thải tại nguồn đối với thành phố Việt Trì; dự án thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt thị xã Phú Thọ; dự án tăng cường năng lực quan trắc và phân tích môi trường cho Trung tâm Quan trắc và Bảo vệ môi trường tỉnh Phú Thọ trình UBND tỉnh, Bộ TNMT phê duyệt để triển khai nhưng do khó khăn về kinh phí nên đến nay vẫn chưa thực hiện được.

III. Đánh giá chung

1. Những kết quả đạt được:

- Nhiều năm qua, ở tỉnh đã phát huy khai thác sử dụng các tiềm năng điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và xã hội một cách có hiệu quả, tạo ra nguồn lực quan trọng cho sự phát triển của địa phương. Gắn quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội một cách hợp lý đồng bộ với tăng cường bảo vệ môi trường để phát triển bền vững.

- Công tác lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, chỉ đạo của các cấp chính quyền từ tỉnh đến cơ sở được tăng cường và có nhiều chuyển biến tích cực, hiệu quả cao. Đã chủ động cụ thể hoá các chính sách pháp luật của nhà nước thành các nội dung nhiệm vụ về quản lý phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm, bảo vệ môi trường ở địa phương.

- Các nội dung nhiệm vụ quản lý bảo vệ môi trường ở địa phương đã có chiều sâu; công tác phòng ngừa, kiểm soát bảo vệ đến việc xử lý khắc phục ô nhiễm trong lao động sản xuất và các hoạt động dễ phát thải ô nhiễm môi trường được chú ý.

- Đã chú trọng công tác giáo dục tuyên truyền nâng cao ý thức và huy động lực lượng của các doanh nghiệp, tổ chức cơ quan đơn vị và tầng lớp nhân dân về bảo vệ môi trường. Đã quan tâm đầu tư hệ thống hạ tầng phục vụ cho công tác xử lý ô nhiễm cho các khu, cụm công nghịêp và khu dân cư tập trung. Tập trung giải quyết được cơ bản các điểm bức xúc về ô nhiễm môi trường.

- Tăng cường năng lực tham mưu đề xuất, quản lý của các cơ quan chuyên môn các cấp. Đẩy mạnh sự phối hợp trong công tác quản lý bảo vệ môi trường. Đã từng bước thực hiện việc xã hội hoá về công tác bảo vệ môi trường. ở nhiều nơi môi trường đã có sự cải thiện rõ rệt.

2. Những tồn tại và hạn chế thiếu sót:

- Do điều kiện tự nhiên của tỉnh phức tạp nên việc thực thi luật pháp về bảo vệ môi trường ở tỉnh có nhiều khó khăn và hạn chế. Đã xuất hiện những điểm nóng và những nội dung cấp bách về môi trường như: Môi trường đất nhiều nơi bị thoái hoá; môi trường nông nghiệp một số điểm nhiễm thuốc trừ sâu, hoá chất độc hại, gây mất an toàn vệ sinh thực phẩm. Môi trường nước, chất lượng nước nhiều điểm đã bị ô nhiễm chỉ tiêu BOD, COD,... cao hơn tiêu chuẩn cho phép nhiều lần. Một số vùng nước ngầm có nguy cơ bị cạn kiệt. Biến đổi khí hậu khó lường nên thiên tai lũ quét xẩy ra nhiều; tình hình dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi và ở người diễn biến phức tạp. Về môi trường đô thị, khu cụm công nghiệp ô nhiễm bụi, khí thải, nước thải, tiếng ồn đang trở thành vấn đề cấp bách. Môi trường nông thôn, việc còn tồn tại các lò gạch thủ công và việc đốt rơm rạ, đốt rác thải làm gia tăng ô nhiễm; việc chăn nuôi gia súc, gia cầm liền với nơi ở của người, không đảm bảo vệ sinh gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ con người. Về sinh thái và đa dạng sinh học có nguy cơ cạn kiệt nguồn gen các động thực vật quý hiếm.

- ý thức chấp hành pháp luật bảo vệ môi trường của một số doanh nghiệp, tổ chức đơn vị và một bộ phận dân cư chưa cao. Không chấp hành về lập, trình duyệt, thực hiện báo cáo ĐTM và đăng ký cam kết bảo vệ môi trường. Một số ít chạy theo lợi nhuận trước mắt mà không đầu tư thực hiện các biện pháp xử lý chất thải để gây ra ô nhiễm nghiêm trọng.

- Công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật chưa sâu. Thực hiện xã hội hoá về bảo vệ môi trường chưa mạnh. Công tác điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học, ứng dụng chuyển giao công nghệ xử lý tái chế chất thải và xây dựng các mô hình tiên tiến về bảo vệ môi trường chưa được chú ý đúng mức.

- Công tác quản lý nhà nước còn hạn chế, việc hướng dẫn các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân thực hiện các văn bản Luật pháp về môi trường cũng chưa đầy đủ. Kiểm tra, thanh tra xử lý các vi phạm chưa thật kiên quyết. Sự phối hợp của các sở, ngành trong việc tham mưu, đề xuất triển khai chính sách pháp luật lúng túng và chưa kịp thời. Tổ chức bộ máy, lực lượng cán bộ, cơ sở vật chất kỹ thuật, kinh phí đầu tư còn thiếu nên công tác còn nhiều tồn tại và bất cập.

3. Nguyên nhân của những tồn tại hạn chế:

+ Khách quan:
- Trước đây công tác bảo vệ môi trường chưa được chú trọng, vì thế hệ thống văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường được ban hành chưa lâu, thiếu đồng bộ, nhiều vấn đề chưa hợp lý nên đòi hỏi một quá trình để hoàn thiện và đi vào cuộc sống.
- Vấn đề ô nhiễm và xử lý ô nhiễm môi trường là hệ quả tất yếu của quá trình đầu tư phát triển nhanh.
- Đầu tư cho xử lý môi trường đòi hỏi nguồn lực lớn trong khi nội lực ngân sách nhà nước và xã hội có hạn. Nhiều cơ sở công nghiệp trên địa bàn tỉnh được xây dựng từ lâu nên công nghệ cũ, lạc hậu, sản xuất kém hiệu quả, phát sinh lượng chất thải lớn, chưa có hệ thống xử lý, hoặc hệ thống xử lý chưa đảm bảo.
- Do tồn tại từ trước đây nhiều cơ sở công nghiệp nằm xen ghép các khu dân cư, hoặc bố trí dân cư bám theo các nhà máy thiếu sự hợp lý nên khi sản xuất gây ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt, đời sống cộng đồng rất khó giải quyết.
- ý thức trách nhiệm về bảo vệ môi trường của xã hội nhìn chung còn hạn chế do nhận thức, do chạy theo lợi ích cục bộ, cá nhân.
- Năng lực, trình độ đội ngũ cán bộ nói chung và cán bộ quản lý môi trường còn yếu, thiết bị kiểm soát còn thiếu chưa đáp ứng được yêu cầu.
+ Chủ quan:
- Sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, phổ biến chủ trương, pháp luật của một số cấp uỷ Đảng, Chính quyền ở một số nơi thiếu thường xuyên, quyết liệt tới địa bàn; công tác đánh giá sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm chưa đầy đủ. Thiếu chính sách, cơ chế hợp lý để khuyến khích các tổ chức, cá nhân làm tốt công tác bảo vệ môi trường và xử lý nghiêm các cơ sở, cá nhân vi phạm.
- Công tác triển khai, hướng dẫn của cơ quan chuyên môn các cấp nhiều khi còn thiếu tính cụ thể, sâu sát, thiết thực.
- Do áp lực tăng trưởng, nên còn tồn tại tư tưởng giành nguồn lực tập trung đầu tư để sớm đem lại hiệu quả kinh tế trước mắt mà thiếu tính lâu dài, bền vững, thể hiện ở cả công tác quy hoạch, định hướng phát triển còn thiếu tính đồng bộ, hợp lý, ở một số huyện, thị còn có tâm lý nôn nóng cho đầu tư phát triển mà chưa chú ý đến yêu cầu bảo vệ môi trường. Một số doanh nghiệp do khó khăn về kinh phí đầu tư hoặc chạy theo lợi nhuận trước mắt mà chưa nỗ lực hoặc xem nhẹ trách nhiệm bảo vệ môi trường.
- Chưa triển khai được nhiều các đề tài, dự án mang tính dự báo, cảnh báo, xây dựng hệ thống dữ liệu để phục vụ quản lý và kiểm soát ô nhiễm.
- Công tác quản lý bảo vệ môi trường đòi hỏi xã hội hoá cao và có sự phối hợp chặt chẽ thường xuyên, song trong thực tế việc phối hợp giữa các sở, ngành, giữa ngành với cấp, với các đoàn thể chính trị - xã hội và cộng đồng dân cư còn nhiều bất cập, thiếu chặt chẽ, thường xuyên, thiếu điều kiện cơ sở vật chất để triển khai các nội dung chương trình.

IV. Phương hướng thực hiện trong thời gian tới:

Để phát huy những kết quả đã được, khắc phục những tồn tại trong thời gian tới, cần tăng cường công tác quản lý bảo vệ môi trường coi đây là một nhiệm vụ trọng tâm cấp bách trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển bền vững, trong đó:

1. Tiếp tục thực hiện tổ chức hướng dẫn thực hiện Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, Luật Đa dạng sinh học tới các cấp uỷ đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân, các tổ chức, cơ quan, đơn vị, các doanh nghiệp và các tầng lớp dân cư trên địa bàn tỉnh. Tổ chức học tập, quán triệt Chỉ thị số 29-CT/TW ngày 21/01/2009 của Ban Bí thư về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 41- NQ/TW, ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về “Bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”. Đưa nghị quyết của Đảng, pháp luật của nhà nước vào trong cuộc sống nhằm nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, các doanh nghiệp và người dân về bảo vệ môi trường.

2. Cụ thể hoá các nội dung nhiệm vụ về quản lý, bảo vệ môi trường, Bảo vệ đa dạng sinh học: Thể chế hoá yêu cầu bảo vệ môi trường trong việc lập, thẩm định, phê duyệt và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh gắn với yêu cầu về bảo vệ môi trường, bảo vệ đa dạng sinh học, phát triển bền vững; đồng thời tăng cường vai trò hiệu lực của các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường, tổ chức có hiệu quả các nội dung biện pháp bảo vệ môi trường. Đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản, nghiên cứu ứng dụng chuyển giao công nghệ môi trường, công nghệ xử lý, tái chế chất thải phục vụ phát triển kinh tế xã hội thực hiện phát triển bền vững.

3. Tăng cường công tác thanh kiểm tra việc thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường đối với các tổ chức cá nhân, kiên quyết xử lý những đối tượng gây ô nhiễm môi trường và buộc phải đầu tư khắc phục ô nhiễm.

4. Kiện toàn tổ chức và nâng cao năng lực quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của các cơ quan chuyên môn từ cấp tỉnh đến cơ sở và tăng cường sự phối hợp giữa các cấp, các ngành, các đoàn thể về quản lý và bảo vệ môi trường.

5. Tăng cường công tác xã hội hoá các hoạt động bảo vệ môi trường, xây dựng các điển hình tiên tiến và nhân rộng thành phong trào toàn dân bảo vệ môi trường.

V. Đề xuất - Kiến nghị:
Qua thực tế công tác quản lý và bảo vệ môi trường trong các năm, Sở Tài nguyên & Môi trường kiến nghị:
1. Với Đảng, Nhà nước, các Bộ, Ngành Trung ương:
- Xây dựng, hoàn thiện và ban hành đồng bộ các văn bản quy định về bảo vệ môi trường, đặc biệt là tiêu trí đánh giá tác động môi trường, ảnh hưởng tác động môi trường của các dự án trên các mặt kinh tế - văn hoá - môi trường. Điều chỉnh các văn bản pháp luật về môi trường đã có cho phù hợp với điều kiện thực tế hiện nay như: Quy định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan quản lý, bảo vệ pháp luật về môi trường; trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có hành vi gây ô nhiễm môi trường; tăng mức xử phạt đối với tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; quy định về thu phí bảo vệ môi trường đối với khí thải; điều chỉnh cách tính toán theo hướng tăng mức ký quỹ phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản, vì mức hiện nay quá thấp không đủ chi phí cho khắc phục môi trường và không nâng cao được trách nhiệm của chủ khai thác; ban hành quy trình, hướng dẫn kỹ thuật xử lý các loại chất thải...

- Nghiên cứu để đề ra giải pháp tổng thể bảo vệ lưu vực và nguồn nước của hệ thống sông Hồng (đặc biệt là sông Lô, sông Đà) vì đây là nguồn nước sinh hoạt và sản xuất của cả vùng dân cư rộng lớn.

- Sớm có định hướng, hướng dẫn các địa phương lựa chọn phù hợp công nghệ xử lý rác thải, nước thải.

- Cần có điều tra đánh giá để giới thiệu mô hình Hợp tác xã dịch vụ môi trường hoạt động có hiệu quả.

- Tăng cường đầu tư cho công tác nghiên cứu, dự báo, cảnh báo tác động ô nhiễm môi trường các loại hình sản xuất, kinh doanh dịch vụ để đưa ra các biện pháp, giải pháp xử lý, phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường.

- Hỗ trợ địa phương đào tạo nguồn nhân lực quản lý môi trường, đầu tư nâng cao cơ sở vật chất, trang thiết bị quan trắc, phân tích môi trường phục vụ công tác quản lý môi trường.

- Có cơ chế chính sách hỗ trợ địa phương xử lý môi trường tại các làng nghề truyền thống; môi trường vùng chậm lũ, tránh lũ; môi trường các vùng có nhiều hoạt động văn hoá lễ hội lớn của đất nước.

- Tỉnh Phú Thọ là tỉnh kinh tế khó khăn, đề nghị Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường và các Bộ, ngành Trung ương xem xét hỗ trợ cho tỉnh thực hiện các dự án về xử lý phân loại rác thải tại nguồn; Dự án điều tra đánh giá tổng thể các vùng đất ngập nước; Dự án đầu tư hệ thống xử lý nước thải đô thị, khu xử lý rác thải sinh hoạt, công nghiệp tại thành phố Việt Trì và thị xã Phú Thọ; Dự án đầu tư trang thiết bị cho Trung tâm Quan trắc và BVMT để đảm bảo sự hoạt động với chức năng là Trung tâm của vùng đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường xác định và các dự án khắc phục ô nhiễm cải thiện môi trường; xử lý điểm nóng về ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật tại khu 2 xã Yên Tập - Cẩm Khê; xử lý ô nhiễm môi trường phóng xạ tại khu vực Dấu Cỏ xã Đông Cửu - Thanh Sơn.

2. Đề nghị Tỉnh uỷ - HĐND - UBND tỉnh:

- Chỉ đạo các cấp, các ngành: Tổ chức triển khai các chương trình, dự án của Chiến lược bảo vệ môi trường tỉnh đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 đã được sắp xếp theo mức độ ưu tiên đến năm 2020.

- Chỉ đạo ngành Xây dựng, Tài nguyên và Môi trường triển khai lập quy hoạch xây dựng hệ thống thu gom, xử lý nước thải đô thị, khu xử lý rác thải sinh hoạt tại các huyện, thị.

- Tạo điều kiện, tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị và kinh phí phục vụ công tác quản lý bảo vệ môi trường cho Sở Tài nguyên và Môi trường, phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện đảm bảo sự hoạt động.

Trên đây là báo cáo công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong những năm qua và những đề xuất kiến nghị của Sở Tài nguyên và Môi trường.

Nguồn tin: Trung tâm Lưu trữ và Thông tin

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
Bản đồ giá đất
Quyết định khu vực cấm, phương án khai thác khoáng sản
Công bố các văn bản của Sở Tài nguyên và Môi trường
Công bố quy hoạch sử dụng đất tỉnh phú thọ đến năm 2020
Hướng dẫn công tác bảo vệ môi trường nông thôn trên địa bàn tỉnh phú thọ
Bản đồ hành chính

Tra tin theo ngày tháng

T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
      1 2 3 4
5 6 7 8 9 10 11
12 13 14 15 16 17 18
19 20 21 22 23 24 25
26 27 28 29 30 31  
2021 << 12/2022 >> 2023
Bộ Tài nguyên và Môi trường
Cổng TTDT Chính phủ
Cổng thông tin điện tử tỉnh Phú Thọ
Dịch vụ công trực tuyến Bộ TN và MT
Dịch vụ công trực tuyến
Du lịch Phú Thọ
Tài liệu tuyên truyền pháp luật
Cục Công nghệ thông tin
Cục đo đạc và bản đồ
Cục bảo vệ môi trường
Chung tay phòng, chống Đại dịch COVID
Thông tin chỉ đạo điều hành
Dự báo thời tiết

Thống kê truy cập

vay cong so Đang truy cập : 114

Máy chủ tìm kiếm : 5

Khách viếng thăm : 109


thời trang công sở Hôm nay : 28559

thoi trang han quoc Tháng hiện tại : 167509

4 Tổng lượt truy cập : 28428792

Bảng giá đất


san panel thi công nhà xưởng nồi hơi tầng sôi thi công trần nhà Chung cư Sunrise City Lê Văn Lương chung cư thương mại Dự án chung cư Đồng Phát Park View Vinhomes Riverside Hải Phòng Vinhomes metropolis Liễu Giai Dự án Vinhomes dong phuc Giá máy làm đá viên Máy bào đá tự động may lam da nắp hố ga đầu cáp ngầm 24kv