Trang nhất » Tin Tức » Môi trường

Nâng cao năng lực bảo tồn, sử dụng tài nguyên và chia sẻ lợi ích đất ngập nước, phục vụ phát triển bền vững đất nước

Thứ tư - 10/05/2017 14:42
Vườn Quốc gia Tràm Chim được công nhận là khu Ramsar thứ 4 của Việt Nam (ảnh:nguồn newszing.vn)

Vườn Quốc gia Tràm Chim được công nhận là khu Ramsar thứ 4 của Việt Nam (ảnh:nguồn newszing.vn)

Nghị định số 109/2003/NĐ-CP ngày 23/9/2003 của Chính phủ về Bảo tồn và phát triển bền vững đất ngập nước đã tạo hành lang pháp lý và đóng góp quan trọng cho công tác bảo tồn và sử dụng bền vững các vùng đất ngập nước của Việt Nam. Tuy nhiên, sau 13 năm triển khai, một số quy định trong Nghị định đã bộc lộ nhiều bất cập. Vì vậy việc xây dựng một Nghị định mới về đất ngập nước (ĐNN) thay thế Nghị định số 109/2003/NĐ-CP là rất cần thiết nhằm giải quyết được các vấn đề bất cập hiện nay trong quản lý ĐNN, góp phần kiện toàn văn bản quản lý về ĐNN, nâng cao năng lực bảo tồn, sử dụng tài nguyên ĐNN và chia sẻ lợi ích của ĐNN trong xã hội để đáp ứng với mục tiêu phát triển bền vững đất nước, thực hiện hiệu quả cam kết quốc tế về bảo tồn và sử dụng khôn khéo các vùng ĐNN ở Việt Nam. Bảo tồn và phát triển vùng đất ngập nước
 
Đất ngập nước (ĐNN) có vai trò quan trọng đối với sự phát triển và thịnh vượng của loài người nhờ các chức năng: nạp, tiết nước ngầm; lắng đọng trầm tích, độc tố; tích luỹ chất dinh dưỡng; điều hoà vi khí hậu; hạn chế lũ lụt; sản xuất sinh khối; duy trì đa dạng sinh học; chắn sóng, gió bão và ổn định bờ biển, chống xói lở, hạn chế sóng thần. Chính vì vậy, các hoạt động về quản lý ĐNN đã được cộng đồng quốc tế quan tâm từ những năm 1971 bởi việc cam kết bảo tồn và sử dụng khôn khéo ĐNN thông qua việc ký kết Công ước Ramsar - Hiệp ước liên chính phủ toàn cầu về bảo tồn và sử dụng khôn ngoan tài nguyên thiên nhiên, đồng thời thừa nhận các vùng ĐNN là các hệ sinh thái có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH) cũng như cung cấp phúc lợi cho cộng đồng dân cư. Đến nay, Công ước Ramsar (Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế) đã có 169 quốc gia thành viên với 2.263 khu đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế (khu Ramsar) và diện tích 215,302,007 ha. Đây là Công ước mang tính chất toàn cầu đầu tiên trong lĩnh vực bảo tồn thiên nhiên với mục tiêu bảo vệ các vùng ĐNN trước sự lấn chiếm ngày càng gia tăng và ngăn chặn những tổn thất có thể xuất hiện trong hiện tại và tương lai để bảo đảm tính ĐDSH của các vùng ĐNN. Sứ mệnh của Công ước là "bảo tồn và sử dụng khôn khéo tất cả các vùng đất ngập nước thông qua các hành động tại địa phương, quốc gia và hợp tác quốc tế, như một đóng góp để đạt được phát triển bền vững trên toàn thế giới”.
Các vấn đề về sử dụng và khai thác hợp lý cũng như duy trì, bảo tồn các bộ phận cấu thành hệ sinh thái ĐNN như tài nguyên sinh vật, (đặc biệt là các loài chim nước), tài nguyên đất, lợi ích cung cấp nước của vùng ĐNN, tài nguyên năng lượng đã được quan tâm và thực hiện có hiệu quả ở nhiều quốc gia trên thế giới. Điển hình như Ôxtraylia, Newzeland, Hà Lan, Thái Lan,Mỹ,Malaysia... đã ban hành các văn bản quản lý trực tiếp các vùng đất ngập nước hoặc lồng ghép vào các đạo luật đa dạng sinh học, môi trường của mỗi quốc gia.
 
Với diện tích khoảng 12 triệu ha, ĐNN phân bố ở hầu khắp các vùng sinh thái của Việt Nam, gắn bó lâu đời với cộng đồng dân cư, đất ngập nước đã mang lại nhiều giá trị to lớn cho bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế xã hội của đất nước, đồng thời là nơi giải trí, chốn tâm linh của nhiều làng quê từ miền núi, đồng bằng đến vùng ven biển. Theo Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (2008), trung bình mỗi hecta san hô cung cấp 130.000 USD giá trị hàng hóa và dịch vụ, đôi khi có thể lên tới 1,2 triệu USD. Theo kết quả nghiên cứu của Bộ Môi trường Nhật Bản, tổng lợi ích thực của hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình lên 333,225 tỷ đồng/năm và 1.343,801 tỷ đồng về giá trị lưu trữ cacbon. Do đó việc bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước giàu tài nguyên và đa dạng sinh học của ViệtNamlà một trong những mục tiêu phát triển bền vững của nước ta. Ý thức được vai trò và giá trị các vùng ĐNN, Việt Nam đã chính thức gia nhập Công ước Ramsar năm 1989 và là quốc gia đầu tiên trong khu vực Đông Nam Á và thứ 50 của thế giới. Từ đó đến nay, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản quy định trực tiếp hoặc gián tiếp đến quản lý đất ngập nước hoặc đối tượng trên các vùng ĐNN. Cụ thể: Nghị định 109/2003/NĐ-CP ngày 23/9/2013 về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước; Thông tư số 18/2004/TT-BTNMT ngày 23/8/2004 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 109/2003/NĐ-CP; Quyết định số 04/2004/QĐ-BTNMT ngày 05/4/2004 phê duyệt KHHĐ về bảo tồn và phát triển bền vững ĐNN giai đoạn 2004 - 2010; Quyết định số 131/2004/QĐ-TTg ngày 16/7/2004 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt Chương trình bảo vệ và triển nguồn lợi thuỷ sản đến năm 2010; Quyết định 1479/QĐ-TTg và Quyết định 742/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về quy hoạch các vùng nước nội địa và các khu bảo tồn biển; Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 05 tháng 9 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; Quyết định số 1250/QĐ-TTg ngày 31/7/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; Luật Thủy sản và các văn bản hướng dẫn Luật. Đặc biệt là Luật Đa dạng sinh học (2008) là văn bản Luật đầu tiên, duy nhất đề cập đến bảo tồn và sử dụng bền vững các hệ sinh thái ở Việt Nam, trong đó bao gồm các vùng đất ngập nước (thể hiện trong chương III của Luật Đa dạng sinh học).
Các văn bản pháp luật nêu trên, đặc biệt là Nghị định 109/2003/NĐ-CP đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong việc quản lý và sử dụng đất ngập nước ở Việt Nam.
 
Một số khó khăn, bất cập trong hệ thống pháp luật và công tác quản lý về đất ngập nước ở Việt Nam
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, sau hơn 13 năm thực hiện Nghị định 109/2003/NĐ-CP đã bộc lộ những hạn chế nhất định, thiếu nội dung về quản lý bền vững các vùng ĐNN có giá trị đa dạng sinh học (ĐDSH), phục hồi, sử dụng khôn khéo ĐNN, cơ chế chia sẻ lợi ích và nguồn lực cho công tác bảo tồn ĐDSH ĐNN nên chưa bao quát toàn diện các vấn đề đặt ra đối với mục tiêu quản lý các vùng đất ngập nước, nhất là các vùng đất ngập nước được thiết lập thành các khu bảo tồn thiên nhiên, các khu Ramsar hay các hoạt động sử dụng bền vững tài nguyên ĐNN để phát triển kinh tế- xã hội.
Các vùng ĐNN đang ngày càng bị tác động mãnh mẽ bởi các hoạt động phát triển kinh tế của con người và tác động của biến đổi khí hậu, nhiều vùng đất ngập nước đã bị biến mất và diện tích các vùng ĐNN bị suy giảm do sức ép khai thác, sử dụng đất ngập nước và các nguồn tài nguyên thiên nhiên trên các vùng đất ngập nước gia tăng; giảm chất lượng đất và nước, thay đổi cấu trúc và chức năng dịch vụ hệ sinh thái ở nhiều vùng đất ngập nước trên toàn quốc.
Hệ thống pháp luật về đất ngập nước hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý, nhiều văn bản quy phạm pháp luật thuộc nhiều ngành, lĩnh vực liên quan đến đất ngập nước nên thiếu sự thống nhất và rõ ràng. Đặc biệt Nghị định 109/2003/NĐ-CP điều chỉnh trực tiếp đến quản lý ĐNN, sau hơn 13 năm thực hiện đã bộc lộ những hạn chế nhất định, thiếu nội dung về quản lý bền vững các vùng ĐNN có giá trị ĐDSH, phục hồi, sử dụng khôn khéo ĐNN, cơ chế chia sẻ lợi ích và nguồn lực cho công tác bảo tồn ĐDSH ĐNN nên chưa bao quát toàn diện các vấn đề đặt ra đối với mục tiêu quản lý các vùng đất ngập nước, nhất là các vùng đất ngập nước được thiết lập thành các khu bảo tồn thiên nhiên, các khu Ramsar hay các hoạt động sử dụng bền vững tài nguyên ĐNN để phát triển kinh tế- xã hội.
Nhận thức chưa đúng đắn về tầm quan trọng và giá trị đất ngập nước, nhiều vùng đất ngập nước còn bị coi là đất hoang hoá như một phần đất ở vùng cửa sông ven biển. Các chính sách chuyển đổi mục đích sử dụng đất như chuyển từ đất cạn sang đất ngập nước (đắp đập thuỷ điện, hồ chứa, nuôi trồng thuỷ sản, quai đê lấn biển, tái định cư...) hoặc thiếu các quy định pháp luật về bảo tồn và sử dụng bền vững đất ngập nước, dẫn đến ô nhiễm, suy thoái, thu hẹp diện tích đất ngập nước và gây các tổn thất về kinh tế cũng như ảnh hưởng đến sinh kế của người dân.
Có nhiều cơ quan quản lý, từ Trung ương xuống địa phương có chức năng, nhiệm vụ quản lý các hoạt động trên các vùng đất ngập nước, song việc phân công, phân cấp còn có sự chồng chéo. Năng lực cán bộ, đặc biệt cán bộ chuyên môn, am hiểu về đất ngập nước vừa thiếu về số lượng, hạn chế về trình độ. Chưa có được cơ chế phối, kết hợp trong quản lý đất ngập nước giữa các cơ quan, đơn vị có liên quan, thậm chí ngay cả trong một ngành, lĩnh vực.
Vì vậy, cần phải có giải pháp kiện toàn văn bản quản lý ĐNN nhằm duy trì diện tích và bảo vệ, phát huy các giá trị các dịch vụ hệ sinh thái đất ngập nước trước các mối đe dọa ngày càng gia tăng từ các hoạt động phát triển và áp lực tự nhiên.
 
Tăng cường năng lực quản lý, thực thi pháp luật về ĐNN, góp phần thực hiện hiệu quả trách nhiệm của quốc gia thành viên Công ước Ramsar
Để khắc phục những khó khăn, bất cập trong hệ thống pháp luật và công tác quản lý về đất ngập nước, cần phải kiện toàn hệ thống văn bản quản lý và bảo tồn các nguồn tài nguyên đất ngập nước một cách thống nhất trên toàn quốc; chú trọng bảo tồn cấu trúc và những đặc trưng, chức năng của hệ sinh thái ĐNN, đảm bảo duy trì tính bền vững của các dịch vụ hệ sinh thái ĐNN; Sử dụng khôn khéo và có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên trên các vùng ĐNN; gắn kết, lồng ghép giữa mục tiêu bảo tồn và phát triển sinh kế cho các cộng đồng dân cư sống trên và xung quanh các vùng đất ngập nước; đảm bảo phân chia hài hòa lợi ích mà hệ sinh thái ĐNN mang lại cho các bên liên quan đến vùng ĐNN; giảm thiểu các xung đột về mặt không gian giữa các đối tượng tham gia khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên trên các vùng ĐNN; tăng cường nhận thức và huy động sự tham gia của cộng đồng và các bên liên quan trong bảo tồn và sử dụng khôn khéo đất ngập nước trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
Nhằm giải quyết được những nội dung trên và đảm bảo tính khả thi, hiệu quả trong triển khai thực hiện công tác quản lý đất ngập nước, việc ban hành Nghị định mới về bảo tồn và sử dụng bền vững đất ngập nước thay thế Nghị định 109/2003/NĐ-CP là phù hợp với xu thế tất yếu của quá trình quản lý và góp phần bảo vệ các giá trị tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam phục vụ mục tiêu phát triển bền vững đất nước.
Mục tiêu tổng quát của Nghị định là Bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên đất ngập nước (ĐNN), đảm bảo duy trì đặc tính sinh thái của các vùng ĐNN và tăng cường năng lực quản lý, thực thi pháp luật về ĐNN, góp phần thực hiện hiệu quả trách nhiệm của quốc gia thành viên Công ước Ramsar.
Cụ thể là bảo vệ, bảo tồn, duy trì các đặc tính sinh thái, các giá trị văn hóa - lịch sử và di sản độc đáo của các vùng ĐNN có giá trị đa dạng sinh học, các hệ sinh thái ĐNN quan trọng nằm trong và ngoài KBT cần được bảo vệ, khu ĐNN có tầm quan trọng quốc gia, quốc tế; Khai thác, sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên trên các vùng ĐNN trên nguyên tắc phát triển bền vững, góp phần đảm bảo an ninh lương thực, an sinh xã hội và bảo vệ môi trường sống của các loài hoang dã; Đảm bảo sự công bằng giữa con người với thiên nhiên, giữa các bên liên quan trong việc phân chia các lợi ích, giá trị mà các vùng ĐNN mang lại, đặc biệt giữa các đối tượng thụ hưởng các dịch vụ hệ sinh thái ĐNN; đồng thời, giảm và loại bỏ các xung đột giữa các bên liên quan trong sử dụng tài nguyên ĐNN; Nâng cao sự hiểu biết, nhận thức của các bên liên quan về ĐNN và các giá trị của chúng.
Bố cục của dự thảo Nghị định gồm có 6 chương, 9 mục và 49 điều với nội dung như sau:
Quy định chung: Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng; Giải thích từ ngữ và Nguyên tắc bảo tồn và sử dụng bền vững đất ngập nước;
Dự thảo Nghị định cũng quy định cụ thể về: Điều tra, đánh giá, kiểm kê và xây dựng cơ sở dữ liệu về đất ngập nước: Điều tra, đánh giá và phân loại đất ngập nước; kiểm kê, xây dựng, cập nhật và điều chỉnh dữ liệu đất ngập nước;
Bảo tồn các hệ sinh thái ĐNN: Thành lập khu bảo tồn trên các vùng ĐNN; Quản lý các khu bảo tồn ĐNN; Bảo vệ các hệ sinh thái ĐNN quan trọng nằm trong và ngoài khu bảo tồn; Quản lý các khu ĐNN có tầm quan trọng quốc tế.
Sử dụng bền vững các hệ sinh thái ĐNN: Chia sẻ lợi ích các dịch vụ hệ sinh thái ĐNN; Phục hồi các hệ sinh thái ĐNN; Các hoạt động khuyến khích và hạn chế trên các vùng ĐNN;
Nguồn lực bảo tồn và sử dụng bền vững ĐNN: nguồn lực và các hạng mục, tiêu chí đầu tư bảo tồn và sử dụng bền vững ĐNN;
Huy động sự tham gia của bảo tồn ĐNN và phát triển nguồn nhân lực và sử bền vững ĐNN.
 

Nguồn tin: www.monre.gov.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
Quyết định khu vực cấm, phương án khai thác khoáng sản
Thông tin đấu giá
Công bố các văn bản của Sở Tài nguyên và Môi trường
Công bố quy hoạch sử dụng đất tỉnh phú thọ đến năm 2020
Danh sách phôi giấy chứng nhận sử dụng đất hư hỏng và đã bị tiêu hủy
Hướng dẫn công tác bảo vệ môi trường nông thôn trên địa bàn tỉnh phú thọ
Bản đồ hành chính

Tra tin theo ngày tháng

T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30 31        
2017 << 10/2018 >> 2019
Gef 6 năm 2018
Dịch vụ công trực tuyến Bộ TN và MT
Biển đảo Việt Nam
Việt Nam - Asean
Apec 2017
Chủ quyền Biển, Đảo
Cổng TTDT Chính phủ
Dịch vụ công trực tuyến
Trung tâm Công nghệ Thông tin
Du lịch Phú Thọ
Hưởng ứng ngày KTTV 2018
Tài liệu tuyên truyền pháp luật
Cổng thông tin điện tử tỉnh Phú Thọ
Bộ Tài nguyên và Môi trường
Cục Công nghệ thông tin
Cục đo đạc và bản đồ
Cục bảo vệ môi trường
 
Dự báo thời tiết

Thống kê truy cập

vay cong so Đang truy cập : 40

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 38


thời trang công sở Hôm nay : 3505

thoi trang han quoc Tháng hiện tại : 106994

4 Tổng lượt truy cập : 10396827

Bảng giá đất

san panel thi công nhà xưởng nồi hơi tầng sôi thi công trần nhà Chung cư Sunrise City Lê Văn Lương chung cư thương mại Dự án chung cư Đồng Phát Park View Vinhomes Riverside Hải Phòng Vinhomes metropolis Liễu Giai Dự án Vinhomes dong phuc Giá máy làm đá viên Máy bào đá tự động may lam da nắp hố ga đầu cáp ngầm 24kv