Trang nhất » Tin Tức » Kỷ niệm 10 năm thành lập sở Tài nguyên và môi trường Phú Thọ

Sở Tài nguyên và Môi trường 10 năm xây dựng và phát triển (7/ 2003 - 7/2013)

Thứ năm - 04/07/2013 16:46
Sở Tài nguyên và Môi trường được thành lập theo Quyết định số 2055/2003/QĐ-UB ngày 10/7/2003 của UBND tỉnh Phú Thọ trên cơ sở hợp nhất tổ chức của của Sở Địa chính và các tổ chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên Nước, tài nguyên Khoáng sản, Môi trường thuộc sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công nghiệp, Sở Khoa học và Công nghệ.
Sở Tài nguyên và môi trường Phú Thọ là cơ quan tham mưu giúp UBND tỉnh thực hiện chức năng quản lý Nhà nước trên 6 lĩnh vực: Quản lý tài nguyên Đất, tài nguyên Nước, tài nguyên Khoáng sản, Môi trường, Khí tượng thuỷ văn, Đo đạc và Bản đồ trên địa bàn tỉnh. Đến nay, Sở Tài nguyên và Môi trường Phú Thọ vừa tròn 10 năm xây dựng và phát triển. Ngay từ khi mới được thành lập và trong suốt quá trình 10 năm xây dựng và phát triển, Sở Tài nguyên và Môi trường luôn  nhận được sự quan tâm chỉ đạo giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tỉnh uỷ - HĐND - UBND tỉnh, các cơ quan Trung ương, sự phối hợp có hiệu quả của các ban, ngành, đoàn thể và UBND các huyện, thành, thị, tập thể cán bộ, công chức, viên chức và người lao động thuộc sở Tài nguyên và Môi trường đã đoàn kết gắn bó, khắc phục mọi khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, tích cực tham mưu cho Tỉnh uỷ - UBND tỉnh chỉ đạo thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường trên địa bàn tỉnh. Kết quả tiêu biểu đạt được trên các lĩnh vực công tác như sau:
I- Kết quả 10 năm xây dựng và phát triển
1- Kết quả xây dựng, phát triển  hệ thống tổ chức bộ máy  quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường
 Nhìn lại chặng đường 10 năm qua, để đánh giá đầy đủ những kết quả đã phấn đấu đạt được cũng như những tồn tại hạn chế  cần khắc phục để tiếp tục phấn đấu đi lên trong giai đoạn phát triển mới. Bước đầu mới được thành lập, sở Tài nguyên và Môi trường còn gặp nhiều khó khăn, thác thức: Cơ sở vật chất điều kiện làm việc còn nhiều hạn chế; Tổ chức biên chế đang trong quá trình sắp xếp, đội ngũ cán bộ còn thiếu về số lượng, hạn chế về chất lượng; cấp huyện chưa thành lập phòng Tài nguyên và Môi trường, chức năng tham mưu quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường ở cấp huyện vẫn do phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đảm nhiệm, do đó gặp rất nhiều khó khăn trong triển khai thực hiện nhiệm vụ. Đứng trước những  yêu cầu thực tiễn đặt  ra, tập thể Đảng uỷ, Lãnh đạo Sở đã xác định các mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm cần tập trung nỗ lực để xây dựng phát triển ngành là:
+ Khẩn trương ổn định tổ chức bộ máy; Tập trung đào tạo đội ngũ công chức, viên chức có đủ năng lực trình độ, năng lực phẩm chất ngang tầm với đòi hỏi của nhiệm vụ được giao theo hướng hiện đại hoá;
+ Tranh thủ mọi nguồn lực để đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện làm việc, công nghệ tiên tiến, hiện đại; đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, tiếp nhận công nghệ mới  theo yêu cầu hiện đại hoá ngành, xây dựng Sở Tài nguyên và Môi trường trở thành ngành quản lý kinh tế xã hội có vị trí, vai trò tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của tỉnh.
Đến nay, sau 10 năm xây dựng và phát triển đã chứng minh định hướng phát triển của ngành là đúng đắn và thực tiễn hoạt động  đã đạt được những kết quả tích cực trên tất cả các mặt công tác với bước phát triển năm sau cao hơn năm trước.
Ngay sau khi thành lập, Sở đã xây dựng đề án trình Tỉnh uỷ, UBND tỉnh phê duyệt để triển khai ổn định tổ chức bộ máy. Bước đầu mới thành lập, tổ chức bộ máy của Sở có 7 phòng  thực hiện chức năng quản lý nhà nước (gồm phòng Tổ chức - Hành chính, Thanh tra sở, phòng Kế hoạch và Tài chính, phòng Đăng ký - Thống kê, phòng Quy hoạch - Kế hoạch sử dụng đất, phòng Quản lý đo đạc và Bản đồ, phòng Quản lý Khoáng sản - Nước - KTTV; 3 đơn vị sự nghiệp (gồm Trung tâm KTCN Tài nguyên, Trung tâm Lưu trữ  và Thông tin, Trạm Quan trắc Môi trường) với tổng số 84 cán bộ công chức, viên chức và lao động. Trong tổng số 84 người mới chỉ có 03 cán bộ có trình độ Thạc sỹ, 44 có trình độ  kỹ sư, cử nhân. ở cấp huyện, chức năng quản lý nhà nước Tài nguyên và Môi trường vẫn do phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn đảm nhận. Cấp xã có 337 cán bộ địa chính trong đó có 25%  có trình độ đại học, 47% có trình độ trung cấp còn lại có trình độ sơ cấp. Trong quá trình xây dựng và phát triển, Sở vừa chú trọng tập trung thực hiện tốt nhiệm vụ chuyên môn vừa tăng cường công tác đào tạo bồi dưỡng, thực hiện tốt chiến lược phát triển nguồn nhân lực, không ngừng kiện toàn tổ chức bộ máy của sở và Ngành, trong đó đã  xây dựng đề án, trình UBND tỉnh quyết định thành lập Trung tâm phát triển Quỹ đất, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất cấp tỉnh, Trung tâm Quan trắc và Bảo vệ môi trường, Chi cục Quản lý Đất đai, Chi cục bảo vệ Môi trường, phối hợp với cấp huyện thành lập Phòng Tài nguyên và Môi trường, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện, góp phần từng bước hoàn thiện bộ máy ngành TN và MT đáp ứng yêu cầu phát triển trong thời kỳ hội nhập kinh tế. Xây dựng chiến lược đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức cho từng giai đoạn 5 năm, 10 năm định hướng gắn với công tác Quy hoạch cán bộ. Mười năm qua, Sở đã cử đi đào tạo bồi dưỡng hàng trăm lựơt cán bộ công chức thăm qua học tập kinh nghiệm trong nước và ngoài nước; Phối hợp các cơ quan thuộc các Tổng cục, vụ, viện thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, sở Nội vụ và UBND các huyện, thành, thị, các tổ chức chính trị xã hội của Tỉnh tổ chức các lớp đào tạo bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, chuyển giao công nghệ, tập huấn kiến thức pháp luật về Tài nguyên Môi trường cho hàng nghìn lượt cán bộ phòng TN và MT cấp huyện, cán bộ địa chính xã, phường, thị trấn, hội viên, đoàn viên các tổ chức chính trị xã hội, xã hội nghề nghiệp  cấp tỉnh, cấp huyện. Đến nay toàn ngành TN và MT Phú Thọ đã có trên 780 công chức, viên chức, trong đó ở Sở có 200 công chức, viên chức và lao động làm việc tại 6 phòng, 2 chi cục và 5 đơn vị sự nghiệp trực thuộc. Hầu hết cán bộ công chức trong ngành ở cấp tỉnh, cấp huyện có trình độ Đại học trở lên, 42% cán bộ địa chính cấp xã có trình độ đại học, 49% có trình độ trung cấp, cao đẳng…
Huy động các nguồn lực đầu tư của Bộ, của tỉnh và các dự án hợp tác quốc tế để từng bước cải thiện điều kiện làm việc, phương tiện, trang thiết bị làm việc cho Sở, các phòng, chi cục, đơn vị sự nghiệp theo hướng hiện đại hoá. Phối hợp làm tốt công tác đảng vụ, đảm bảo hoạt động của các tổ chức đoàn thể thuộc Sở, duy trì phong trào văn hoá văn nghệ thể thao, giữ vững danh hiệu cơ quan văn hoá cấp tỉnh. đẩy mạnh cải cách hành chính trong chỉ đạo điều hành hoạt động của Sở và Ngành theo Quy trình quản lý chất lượng theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN ISO: 9001 - 2008. Thực hiện đầy đủ chế độ thông tin, báo cáo theo yêu cầu của Bộ Tài nguyên và Môi trường, của Tỉnh uỷ - HĐND - UBND tỉnh và các ngành chức năng. Tăng cường đôn đốc việc chấp hành quy chế, kỷ luật lao động, việc lập và triển khai tổ chức thực hiện kế hoạch, nhiệm vụ công tác hàng năm của các phòng, đơn vị thuộc Sở và phòng TN và MT cấp huyện, tham mưu từng bước đổi mới phong cách, lề lối làm việc của CBCCVC. Các thủ tục hành chính từng bước được đồng bộ, cụ thể hoá theo quy trình. Việc tiếp nhận giải quyết công việc theo cơ chế Một cửa được duy trì đúng quy định, tạo cầu nối thuận lợi trong giao dịch hành chính giữa cơ quan nhà nước và các tổ chức cá nhân có nhu cầu liên hệ. Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan truyền thông đẩy mạnh tuyên truyền phổ biến pháp luật và các hoạt động của Ngành trên các kênh thông tin. 
2- Kết quả tổ chức thực hiện nhiệm vụ chuyên môn:
2.1- Lĩnh vực Quản lý Đất đai:
Đã tích cực tham mưu cho Tỉnh ủy - HĐND - UBND tỉnh chỉ đạo triển khai thi hành Luật Đất đai 2003 và các Nghị định hướng dẫn thi hành, trong đó đã đã ban hành 15 Nghị quyết chuyên đề, 47 quyết định để cụ thể hóa và tăng cường công tác quản lý Đất đai trên địa bàn tỉnh, đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý. Ngoài ra, Sở Tài nguyên và Môi trường ban hành nhiều văn bản hướng dẫn chuyên môn để tháo gỡ những vướng mắc trong quá trình triển khai ở cơ sở kịp thời, có chất lượng.
Tham mưu chỉ đạo xây dựng QH-KHSD đất theo từng giai đoạn. Đến nay đã hoàn thành QHSD đất cấp tỉnh giai đoạn 2011 - 2020 định hướng đến 2030 trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Đối với cấp huyện, đã có 11/13 huyện thông qua HĐND cấp huyện quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011 - 2015, đang hoàn thiện hồ sơ để trình duyệt. Đối với cấp xã đã có  276/277 xã, phường, thị trấn thông qua HĐND cấp xã, cấp huyện, đang hoàn thiện trình cấp thẩm quyền phê duyệt. Về việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất, Sở đã tham mưu tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2001 - 2010 cơ bản đảm bảo các chỉ tiêu được duyệt, như: Đất nông nghiệp đạt 102% (đất sản xuất Nông nghiệp đạt 110%, đất Lâm nghiệp đạt 100%); đất phi nông nghiệp đạt 95% (đất ở đạt 95 %, đất chuyên dùng đạt 93%, đất sông, suối, mặt nước chuyên dùng đạt 98%...), đưa đất chưa sử dụng vào sử dụng cho các mục đích vượt trên 2.000 ha. Đối với quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011 - 2020, hiện nay Sở đang tổ chức chỉ đạo thực hiện theo đúng quy hoạch sử dụng đất được Chính phủ phê duyệt, trong hai năm vừa qua, toàn tỉnh thực hiện cơ bản theo chỉ tiêu kế hoạch sử dụng đất được phê duyệt (chỉ tiêu các loại đất đạt từ 90 - 98%).
 Chỉ đạo tổ chức thực hiện tốt công tác thống kê đất đai định kỳ hàng năm và kiểm kê đất đai năm 2005, 2010 theo đúng quy định, đảm bảo chất lượng và thời gian. Qua đó, đã xây dựng bộ số liệu liệu đất đai theo quy định, là số liệu quan trong để xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch sử dụng đất và các quy hoạch chuyên ngành khác.
Hoàn thành dự án đánh giá phân hạng đất cho 13/13 huyện, thành, thị trên địa bàn tỉnh, kết quả đánh giá phân hạng đất là cơ sở lập và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong sản xuất nông lâm nghiệp, góp phần khai thác tốt tiềm năng của đất đai, nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
Tham mưu cho Tỉnh ủy chỉ đạo dồn đổi ruộng đất nông nghiệp, đạt kết quả tích cực, hoàn thành được mục tiêu kế hoạch đề ra. Kết quả đến nay tổng diện tích tham gia dồn đổi trên địa bàn toàn tỉnh đạt 9.610,8/12.084,6 ha, đạt trên 80% diện tích tham gia dồn đổi theo kế hoạch. Đây là kết quả tích cực trong việc thực hiện sự chỉ đạo thực hiện Nghị quyết của Tỉnh uỷ, tạo đà cho việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, phát triển  kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phục vụ phát triển kinh tế xã hội.
Trong 10 năm qua, trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được phê duyệt, Sở đã chỉ đạo thực hiện tốt công tác giao đất, cho thuê đất đáp ứng đầy đủ nhu cầu đất đai cho phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng trên địa bàn tỉnh, công tác giao đất, cho thuê đất ngày càng được thực hiện nhanh gọn, đảm bảo chặt chẽ, đúng quy định, đã áp dụng cơ chế một cửa, một cửa liên thông, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực này. Trong 10 năm, trên địa bàn tỉnh đã giao đất cho 1.266 dự án xây dựng các công trình hạ tầng với diện tích 5.133 ha; giao đất cho 903 dự án sản xuất kinh doanh, với diện tích 4.112 ha. Bên cạnh đó, sau khi giao đất cho các dự án, Sở đã tăng cường chỉ đạo thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra việc quản lý sử dụng đất của các tổ chức để chấn chỉnh và xử lý các tổ chức vi phạm Luật Đất đai theo quy định, trong 10 năm, Sở đã tham mưu cho UBND tỉnh thu hồi đất của 47 dự án, với diện tích 185 ha, qua đó đã góp phần tích cực để các đơn vị  sử dụng đất nhận thức đầy đủ hơn Luật Đất đai và chấp hành tốt các quy định của Luật.
Sở đã phối hợp với các ngành ở tỉnh chỉ đạo các huyện, thành, thị tập trung đẩy nhanh tiến độ lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận QSD đất, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai theo đúng quy định của Luật Đất đai năm 2003, Nghị định số 181/2004/NĐ-CP, Nghị định số 88/2009/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Đến nay, toàn tỉnh đã cấp 658.078 Giấy chứng nhận cho các loại đất với diện tích 201.255,81ha đạt 83% diện tích cần cấp giấy, trong đó: đất nông nghiệp cấp  được 294.522 giấy với diện tích 186.067,24 ha, đạt 84%; đất phi nông nghiệp cấp được cấp  được 363.556 giấy với diện tích 15.188,57 ha, đạt 76%. Trong đó, Sở đã tham mưu cho UBND tỉnh xây dựng dự án cấp Giấy chứng nhận, lập hồ sơ địa chính cho các tổ chức, đơn vị hành chính sự nghiệp trên địa bàn tỉnh, đến nay dự án đã cơ bản hoàn thành theo yêu cầu. Mặt khác, Sở đã tham mưu điều chỉnh dự án xây dựng hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu đất đai giai đoạn 2010 - 2015 và sau năm 2015; xây dựng các thiết kế kỹ thuật đo đạc bản đồ, lập hồ sơ địa chính, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai cho hầu hết các huyện làm cơ sở triển khai thực hiện dự án tổng thể. Để đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, Sở đang xây dựng dự án xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai cho huyện điểm Yên Lập và các tổ chức sử dụng đất trên địa bàn tỉnh. Thực hiện tốt dự án này sẽ là cơ sở để triển khai đồng loạt công tác xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai toàn tỉnh sẽ giúp cho công tác quản lý đất đai ngày càng chặt chẽ hiệu quả.
Hàng năm, Sở đã tham mưu tổ chức xây dựng Bảng giá các loại đất làm cơ sở cho công tác quản lý đất đai; đã tham mưu cụ thể hóa chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư trên địa bàn tỉnh, chỉ đạo tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc về công tác giải phóng mặt bằng cho các địa phương, qua đó góp phần ổn định tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn.
 Ngành TNMT đã phối hợp với các ngành, các địa phương tổ chức thực hiện tốt công tác giao đất, cho thuê đất, đấu giá quyền sử dụng đất, quản lý chặt chẽ việc thực hiện các quyền của người sử dụng đất, qua đó đã phát huy tốt các nguồn lực từ đất đai, hàng năm đem lại nguồn thu quan trọng cho ngân sách nhà nước, cụ thể: Năm 2005 thu đạt 55,5 tỷ đồng, năm 2006 thu đạt 65,8 tỷ đồng; năm 2007 thu đạt 55,5 tỷ đồng; năm 2008 thu đạt 96,5 tỷ đồng; năm 2009 thu đạt 100 tỷ đồng; năm 2010 thu đạt 148 tỷ đồng; năm 2011 thu đạt 400 tỷ đồng và năm 2012 đạt trên 570 tỷ đồng.
Thực hiện Nghị quyết 28/NQ-TW của Bộ chính trị và Nghị định số 200/2004/NĐ-CP ngày  03/12/2004 và Nghị định số 170/2004/NĐ-CP ngày 22/9/2004 của Chính phủ về sắp xếp, đổi mới và phát triển các nông lâm trường quốc doanh, Sở đã tham mưu cho UBND tỉnh tổ chức thực hiện tốt công tác rà soát hiện trạng sử dụng đất của các công ty nông lâm nghiệp có nguồn gốc từ các nông lâm trường quốc doanh để xử lý những tồn tại về quản lý, sử dụng đất: tranh chấp, lấn chiếm đất đai, không đưa đất vào sử dụng, sử dụng đất không hiệu quả. Đây là vấn đề phức tạp, cả nước đang trong quá trình tháo gỡ, tiến độ thực hiện rất chậm, Trung ương Đảng cũng đang tiến hành tổng kết Nghị quyết 28 để tiếp tục chỉ đạo thực hiện. Tuy nhiên, ở tỉnh Phú Thọ, Sở đã tham mưu, trình UBND tỉnh thu hồi 19.949 ha đất có tranh chấp, lấn chiếm giao trùng, cấp trùng, cơ bản thu hồi hết các diện tích đất có tồn tại; đồng thời, chỉ đạo các công ty nông, lâm nghiệp lập quy hoạch chi tiết sử dụng đất theo đúng quy định, đưa tỉnh Phú Thọ là một trong số ít tỉnh thực hiện tốt công tác này.
2.2- Quản lý Tài nguyên nước- Khí tượng thủy văn:
Tham mưu cho UBND tỉnh ban hành và triển khai thực hiện Quyết định số 1107/QĐ-UBND ngày 24/4/2008 Quy định “Một số điểm cụ thể về khai thác, sử dụng Tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước quy mô nhỏ; vùng khai thác nước dưới đất phải đăng ký trên địa bàn tỉnh”; Quyết định số 922/QĐ-UBND ngày 09/4/2012 phê duyệt kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu.
Thẩm định trình UBND tỉnh phê duyệt đúng thời hạn, đúng quy định của Luật Tài nguyên Nước các hồ sơ hoạt động trong lĩnh vực quản lý tài nguyên nước. Tăng cừơng kiểm tra hoạt động khai thác, xả nước thải vào nguồn nước. Kết quả  đã  cơ bản thiết lập trật tự trong quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên nước phục vụ phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh. Đảm bảo khai thác sử dụng hợp lý bền vững nguồn tài nguyên nước mặt nước ngầm và nước khác trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.  
Thường xuyên kiểm tra đôn đốc, hướng dẫn và phối hợp kiểm tra lập hồ sơ xả thải vào nguồn nước, khai thác nước ngầm để bảo vệ nguồn nước theo quy định của Luật tài nguyên nước.
Triển khai thực hiện dự án “Xây dựng cơ sở dữ liệu KTTV tỉnh Phú Thọ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội”. Thường xuyên cập nhật dữ liệu lập cảnh báo KTTV trên địa bàn tỉnh hàng tháng. Chủ động tham mưu xây dựng phương bão phòng chống lụt bão của ngành, tham mưu cho Ban chỉ đạo của tỉnh chủ động phòng chống thiên tai, bão lũ. Kết quả góp phần tích cực  giảm thiểu thiệt hại về tính mạng, tài sản của nhà nước nhân dân.
2.3-  Quản lý tài nguyên khoáng sản:
Sở đã tham mưu cho Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh  ban hành nhiều văn bản chỉ đạo  tăng cường công tác quản lý nhà nước. Khoanh định khu vực cấm hoạt động khoáng sản. Để bảo vệ nguồn tài nguyên khoáng sản chưa khai thác, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 891/2004/QĐ-UB ngày 26/3/2004 về việc quy định trách nhiệm trong quản lý, bảo vệ khoáng sản và hoạt động khoáng sản trên địa bàn tỉnh. Năm 2008, để phù hợp với điều kiện thực tế, UBND tỉnh tiếp tục ban hành Quyết định số 3258/QĐ-UBND ngày 13/11/2008, quy định cụ thể một số điều về quản lý, hoạt động hoạt động khoáng sản trên địa bàn tỉnh.
Trong những năm qua, công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản trên địa bàn tỉnh luôn được tiến hành theo kế hoạch. Hàng năm, đều chỉ đạo thành lập Đoàn Kiểm tra liên ngành để tiến hành kiểm tra, đồng thời cũng nhằm đánh giá về công tác quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản, hoạt động khai thác, chế biến và kinh doanh khoáng sản trên địa bàn tỉnh phục vụ cho việc hoạch định xây dựng những chủ trương lớn của tỉnh trong tình hình mới. Tính đến nay, các cơ quan đã tiến hành kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật về khoáng sản và về bảo vệ môi trường trong hoạt động khoáng sản tại 487 cơ sở, thanh tra 16 cơ sở, xử phat vi phạm hành chính 205 cơ sở, tổng số tiền phạt do vi phạm là 3.601,9 triệu đồng; bán tang vật vi phạm xung công quỹ là 2.402 triệu đồng.
Hoạt động khai thác, chế biến vận chuyển và kinh doanh khoáng sản trên địa bàn tỉnh đã được chấn chỉnh một bước, nhiều doanh nghiệp cơ bản đảm bảo các thủ tục hồ sơ hoạt động theo quy định, thực hiện tương đối đầy đủ nghĩa vụ trong hoạt động khai thác, chế biến và kinh doanh, góp phần tăng thu cho ngân sách.
2.4- Bảo vệ môi trường:
Đã tham mưu cho Tỉnh ủy - UBND tỉnh ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt là Chiến lược bảo vệ môi trường tỉnh Phú Thọ đến 2015, định hướng đến 2020; ban hành các văn bản quy phạm, văn bản hướng dẫn thực hiện cơ chế chính sách về bảo vệ môi trường ở địa phương và đã phát huy hiệu quả tích cực trong công tác quản lý và bảo vệ môi trường ở địa phương.
Công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật, nâng cao nhận thức về môi trường được tổ chức thường xuyên với nhiều hình thức, nội dung phong phú thu hút được sự tham gia của cộng đồng đối với công tác bảo vệ môi trường sống. Từ năm 2006 đến nay, Sở đã ký chương trình phối hợp về bảo vệ môi trường với ủy ban MTTQ và các tổ chức chính trị xã hội, ký quy chế phối hợp với Công an tỉnh trong công tác bảo vệ môi trường để triển khai hoạt động tạo bước chuyển biến căn bản nhận thức và trách nhiệm của các nhà quản lý, doanh nghiệp, cộng đồng xã hội đối với công tác quản lý bảo vệ môi trường.
Chỉ đạo tổ chức điều tra cơ bản để đánh giá cụ thể về các nguồn tài nguyên thiên nhiên và có kế hoạch bảo vệ khai thác, tiết kiệm hiệu quả: Tài nguyên đất, nước, không khí, khoáng sản và đa dạng sinh học để có kế hoạch bảo vệ khai thác, sử dụng hợp lý bảo đảm tính hiệu quả và phải gắn với bảo vệ môi trường trước mắt và lâu dài đảm bảo phát triển bền vững.
Đã xây dựng mạng lưới quan trắc môi trường phủ trùm địa bàn tỉnh, bố trí các điểm quan trắc tập trung tại các khu công nghiệp khu đô thị, các khu vực có nguy cơ ô nhiễm cao để kiểm soát chặt chẽ chất lượng môi trường.  Năm 2013 đã triển khai lắp đặt và đưa vào hoạt động Trạm quan trắc môi trường không khí tự động trên địa bàn thành phố Việt Trì. Đã chỉ đạo tập trung khắc phục ô nhiễm và suy thoái môi trường tại khu vực Lâm Thao, Phù Ninh, Hạ Hoà, trong đó nổi bật là chỉ đạo khắc phục ô nhiễm môi trường khu vực xã Thạch Sơn - Lâm Thao. Đối với các dịch vụ công ích đã tập trung chỉ đạo từ nguồn vốn khắc phục ô nhiễm triển khai đầu tư trang thiết bị thu gom phân loại rác thải y tế để xử lý và hệ thống xử lý nước thải ở các bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến huyện, cụ thể: Đầu tư 11 lò đốt rác thải y tế và hệ thống xử lý nước thải một số bệnh viện tuyến huyện; Dự án đầu tư bãi rác huyện Yên lập, huyện Đoan Hùng, Cẩm Khê… và nhiều môi hình xử lý rác thả nông thôn.
Xây dựng năng lực ứng cứu sự cố môi trường để kịp thời khắc phục hậu quả ô nhiễm môi trường do sự cố trong các hoạt động sản xuất kinh doanh và thiên tai gây ra.
Từ năm 2003 đến nay Sở đã phối hợp với các sở, ban, ngành liên quan thẩm định trình UBND tỉnh phê duyệt hơn 205 báo cáo ĐTM; 12 Đề án BVMT chi tiết; xác nhận hoàn thành nội dung báo cáo ĐTM và yêu cầu của Quyết định phê duyệt Báo cáo ĐTM cho 46 cơ sở, dự án. Sở đã phê duyệt 43 đề án BVMT, xác nhận 12 cơ sở đã hoàn thành nội dung Đề án BVMT;  563 bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường. Cấp mới và điều chỉnh sổ đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại cho 233 đơn vị, doanh nghiệp. Thẩm định số tiền ký quỹ cải tạo phục hồi môi trường cho 54 Dự án khai thác khoáng sản với số tiền trên 53 tỷ đồng. Thẩm định thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp đạt trên 7,305 tỷ đồng. 
 2.5- Quản lý Đo đạc & Bản đồ:
Trong những năm qua, tập thể Lãnh đạo và cán bộ công chức, viên chức của sở Tài nguyên và Môi trường đã tích cực tham mưu làm tốt công tác quản lý Nhà nước về đo đạc và bản đồ trên địa bàn tỉnh. Các sản phẩm nghiệp vụ  có chất lượng cao làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế xã hội của tỉnh và của các ngành, địa phương. Tham mưu chỉ đạo thực hiện:  Tổ chức điều tra khảo sát lập LCKTKT đo đạc lập bản đồ và HSĐC các huyện, thành, thị trình UBND tỉnh phê duyệt; Xây dựng phương án thực hiện các loại bản đồ và Hồ sơ địa giới hành chính phục vụ  công tác quản lý. 
Thẩm định phương án kỹ thuật chuyển hệ toạ độ từ HN72 sang VN2000 và số hoá bản đồ; thẩm định các bản vẽ trích lục phục vụ công tác cấp GCNQSD đất của các tổ chức trên địa bàn;  các hồ sơ phương án kỹ thuật đo đạc lập bản đồ địa hình phục vụ Quy hoạch và giải phóng mặt bằng. Thẩm định và trình Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam cấp giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ cho 27 tổ chức trên địa bàn tỉnh.
Thẩm định trên 100 Phương án kỹ thuật và dự toán đo đạc lập bản đồ địa chính, địa hình phục vụ quy hoạch, giải phóng mặt bằng, thu hồi, giao đất cho các Dự án trên địa bàn tỉnh; Triển khai, giám sát thi công, kiểm tra nghiệm thu công tác xây dựng bản đồ hành chính tỉnh Phú Thọ và bản đồ hành chính 13 huyện, thành, thị trên địa bàn tỉnh. Kiểm tra, thẩm định các loại bản đồ chuyên đề, chuyên ngành phục vụ các dự án phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh;
Triển khai, xây dựng: 02 Luận chứng kinh tế - kỹ thuật đo đạc bản đồ địa chính, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; 10 Thiết kế kỹ thuật - Dự toán công trình đo đạc bản đồ địa chính, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn 13 huyện, thành, thị;
Triển khai, giám sát thi công, kiểm tra nghiệm thu các công trình xây dựng lưới địa chính, đo đạc bản đồ địa chính phục vụ công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn các huyện, thành, thị do Sở Tài nguyên và Môi trường làm chủ đầu tư, bao gồm: Xây dựng lưới địa chính 664 điểm; đo đạc bản đồ địa chính 101 xã, diện tích 119.790,85 ha (trong đó: tỷ lệ 1/1000: 35.498,94 ha, tỷ lệ 1/2000: 30.824,72 ha, tỷ lệ 1/5000: 41.310,48 ha, tỷ lệ 1/10000: 12.156,71 ha), bản đồ được biên tập dạng số, theo Hệ tọa độ VN2000.
Trong công tác nghiên cứu khoa học đã thực hiện xong các đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh gồm: Đề tài " Nghiên cứu, ứng dụng công nghệ ảnh số trong việc xây dựng bản đồ địa chính tỷ lệ 1/10.000 phục vụ quản lý đất đai tỉnh Phú Thọ" và Đề tài "Nghiên cứu, ứng dụng tin học xây dựng ATLAS điện tử tỉnh Phú Thọ". 
2.6.  Công tác tiếp dân, thanh tra giải quyết đơn khiếu nại tố cáo
Từ năm 2003 đến nay, Sở đã tiếp 1.038 lượt người, đảm bảo thực hiện 100% trong giờ hành chính, phân công cụ thể cán bộ tiếp công dân đảm bảo đúng quy định, hướng dẫn, giải thích, giải đáp đầy đủ các quy định của pháp luật để người dân hiểu rõ và chấp hành hoặc thực hiện việc chuyển đơn đến cơ quan có thẩm quyền để được xem xét, giải quyết. Tham gia  đầy đủ các buổi tiếp dân định kỳ ngày 10 hàng tháng và những buổi tiếp dân đột xuất do UBND tỉnh chỉ đạo hoặc UBND tỉnh ủy quyền.
Tiếp nhận 1.218 đơn khiếu nại, tố cáo, đề nghị của công dân, trong đó có 105 đơn không thuộc thẩm quyền, 245 đơn thuộc thẩm quyền giải quyết. Đối với 105 đơn không thuộc thẩm quyền giải quyết; 868 đơn trùng lặp, nặc danh hoặc không có cơ sở pháp lý để xem xét giải quyết, Sở đã xử lý theo đúng quy định của pháp luật. Xác minh giải quyết 245 đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền, đạt tỷ lệ 100%.
Công tác thanh tra, kiểm tra theo kế hoạch và đột xuất được thực hiện thường xuyên, cơ bản đáp ứng được yêu cầu quản lý của ngành. Trong 10 năm, Sở đã chủ trì tổ chức và tham gia 634 cuộc thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về tài nguyên và môi trường đối với các đơn vị, tổ chức và cá nhân trên địa bàn tỉnh. Qua thanh tra đã phát hiện sai phạm và kiến nghị thu hồi nộp ngân sách Nhà nước trên 8 tỷ đồng và 245,6 ha đất, tham mưu xử lý hoặc xử lý theo thẩm quyền kịp thời, đúng pháp luật các hành vi vi phạm hành chính về tài nguyên môi trường của các tổ chức và cá nhân có sai phạm. Trong thời gian này, đã ban hành 171 quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với 171 tổ chức, cá nhân với tổng số tiền trên 1,2 tỷ đồng; kiến nghị Chủ tịch UBND tỉnh ban hành 30 quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với 30 tổ chức, cá nhân với tổng số tiền trên 1,4 tỷ đồng.
 Với những thành tích  đã phấn đấu đạt được,  Sở Tài nguyên và Môi trường đã được  UBND tỉnh, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Chính phủ tặng cờ đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua của tỉnh Phú Thọ, được Chủ tịch nước tặng Huân chương Lao động Hạng  Ba, Huân chương Lao động hạng Nhì. Liên tục nhiều năm liền Đảng Bộ Sở Tài nguyên và môi trường được Đảng bộ khối cơ quan tỉnh tặng Danh hiệu tổ chức Cơ sở đảng trong sạch và Trong sạch vững mạnh tiêu biểu. Cơ quan giữ vững danh hiệu cơ quan văn hóa cấp tỉnh 10 năm liền. Nhiều tập thể và cá nhân thuộc Sở và Ngành được tặng Huân chương Lao động, Bằng khen... .
Tài nguyên và Môi trường là vấn đề thiết yếu, là môi trường sống đối với con người, là nền tảng tồn tại và phát triển kinh tế - xã hội. Yêu cầu lớn đặt ra trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn trước mắt và lâu dài là phát triển nhanh phải đi đôi với nâng cao tính bền vững. Trong thời gian tới, ngành TN và MT tập trung triển khai tổ chức thực hiện tốt một số nhiệm vụ:
Lĩnh vực Đất đai - Đo đạc và bản đồ:  Xây dựng hệ thống thông tin, tư liệu, tài liệu về điều tra cơ bản về đo đạc và bản đồ trên địa bàn tỉnh chính xác đầy đủ, kịp thời để quản lý, sử dụng. Nghiên cứu, xây dựng cơ cấu định mức sử dụng đất hợp lý tiết kiệm, hiệu quả kinh tế cao. Rà soát, hoàn thiện đổi mới cơ chế quản lý các hoạt động điều tra, kiểm kê, lập hồ sơ địa chính, chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà và tái sản khác gắn liền với đất, xây dựng khung giá đất, định giá đất, lập quy hoạch sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư, hoàn thiện cơ chế đấu giá quyền sử dụng đất; Hoàn thành công tác cấp giấy CNQSD các loại đất; quản lý chặt chẽ các loại đất và các nội dung chuyển mục đích sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất, đẩy mạnh đấu giá QSDĐ, tạo nguồn lực phát triển KT - XH.
Lĩnh vực Quản lý tài nguyên Nước - KTTV:  Tập trung nghiên cứu rà soát đổi mới cơ chế quản lý hoạt động điều tra, đánh giá, kiểm kê, cấp phép trong lĩnh vực tài nguyên nước phù hợp với kinh tế thị trường; tăng cường áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý tài nguyên nước. Quản lý chặt tài nguyên nước mặt, nước ngầm, bảo vệ chất lượng nước của các sông. Tăng cường năng lực dự báo và phân tích kinh tế về biến đổi khí hậu đến phát triển kinh tế - xã hội.
Lĩnh vực khoáng sản: Xây dựng chiến lược khai thác, sử dụng phù hợp với từng giai đọan phát triển KT - XH của cả nước, của các vùng và địa phương trên cơ sở phân tích dự báo cung - cầu thị trường; thực hiện thí điểm đấu thầu quyền thăm dò khoáng sản, đấu giá khai thác mỏ, tiến tới áp dụng rộng rãi trên phạm vi toàn tỉnh; đề xuất hình thành cơ chế tạo nguồn thu từ hoạt động khoáng sản để tăng thu ngân sách và tái đầu tư cho khảo sát, thăm dò khoáng sản. Tăng cường thanh tra, kiểm tra, phát hiện xử lý kịp thời các vi phạm trong hoạt động khoáng sản.
Lĩnh vực Môi trường:  Tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng về công tác bảo vệ môi trường; đẩy mạnh xã hội hoá về bảo vệ môi trường, thực hiện đa dạng hoá các nguồn đầu tư, khuyến khích và thu hút huy động các nguồn đầu tư từ các tổ chức cá nhân và cộng đồng dân cư cho bảo vệ môi trường. Tổ chức thực hiện Chiến lược bảo vệ môi trường cụ thể hơn bằng các đề án, dự án môi trường của các cấp, các ngành;
 Công tác thanh tra, kiểm tra: Tăng cường thanh kiểm tra trong tất cả các lĩnh vực ngành TN và MT tham mưu quản lý, kịp thời phát hiện chấn chỉnh những vi phạm, tăng cương hơn nữa trật tự kỷ cương trong quản lý tài nguyên và Bảo vệ Môi trường.
Nhìn lại chặng đường 10 năm xây dựng  và phát triển  là bước phát triển tiếp nối  đi lên của các giai đoạn trước đây, sở TN và MT Phú Thọ đã đạt được những thành tích đáng phấn khởi tự hào, góp phần tích cực vào sự nghiệp  phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo ANQP, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh. Hệ thống tổ chức bộ máy của ngành được tăng cường củng cố, nâng cao cả về lượng và chất, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra trong tình hình mới.
 Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc  tới Lãnh đạo các cơ quan Trung ương, Lãnh đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường, Lãnh đạo  và cán bộ chuyên viên các Tổng cục, vụ, viện thuộc  Bộ TN và MT, các Học viện, trường đại học, viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật,  Tỉnh uỷ - HĐND - UBND - UBMT Tổ quốc tỉnh,  các sở, ban, ngành của tỉnh đã thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tạo mọi điều kiện thuận lợi  để ngành TN và MT hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Xin cảm ơn sự cộng tác phối hợp chặt chẽ của các cấp uỷ Đảng, UBND cấp huyện, cấp xã và tất cả  cán bộ công chức, viên chức và lao động  của Ngành đã  đoàn kết gắn bó, đồng tâm hiệp lực góp phần xây dựng ngành Tài nguyên và Môi trường Phú Thọ vững mạnh, hoàn thành  xuất sắc nhiệm vụ được giao.
Trong chặng đường tiếp theo,  Ngành TN và MT Phú Thọ luôn mong  tiếp tục nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tạo điều kiện thuận lợi của Bộ TN và MT, các cơ quan Trung ương, của Tỉnh uỷ - HĐND - UBND tỉnh, sự phối hợp có hiệu quả hơn nữa của các sở, ban, ngành đoàn thể và UBND các huyện, thành, thị để hoàn thành tốt hơn nữa nhiệm vụ được giao.
Tổng số điểm của bài viết là: 2 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: tài nguyên

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
Quyết định khu vực cấm, phương án khai thác khoáng sản
Thông tin đấu giá
Công bố các văn bản của Sở Tài nguyên và Môi trường
Công bố quy hoạch sử dụng đất tỉnh phú thọ đến năm 2020
Danh sách phôi giấy chứng nhận sử dụng đất hư hỏng và đã bị tiêu hủy
Hướng dẫn công tác bảo vệ môi trường nông thôn trên địa bàn tỉnh phú thọ
Bản đồ hành chính

Tra tin theo ngày tháng

T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30 31        
2017 << 10/2018 >> 2019
Gef 6 năm 2018
Dịch vụ công trực tuyến Bộ TN và MT
Biển đảo Việt Nam
Việt Nam - Asean
Apec 2017
Chủ quyền Biển, Đảo
Cổng TTDT Chính phủ
Dịch vụ công trực tuyến
Trung tâm Công nghệ Thông tin
Du lịch Phú Thọ
Hưởng ứng ngày KTTV 2018
Tài liệu tuyên truyền pháp luật
Cổng thông tin điện tử tỉnh Phú Thọ
Bộ Tài nguyên và Môi trường
Cục Công nghệ thông tin
Cục đo đạc và bản đồ
Cục bảo vệ môi trường
 
Dự báo thời tiết

Thống kê truy cập

vay cong so Đang truy cập : 14


thời trang công sở Hôm nay : 3756

thoi trang han quoc Tháng hiện tại : 107245

4 Tổng lượt truy cập : 10397078

Bảng giá đất

san panel thi công nhà xưởng nồi hơi tầng sôi thi công trần nhà Chung cư Sunrise City Lê Văn Lương chung cư thương mại Dự án chung cư Đồng Phát Park View Vinhomes Riverside Hải Phòng Vinhomes metropolis Liễu Giai Dự án Vinhomes dong phuc Giá máy làm đá viên Máy bào đá tự động may lam da nắp hố ga đầu cáp ngầm 24kv